Quy định của pháp luật Việt Nam về xác định hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu trong so sánh với pháp luật chống bán phá giá của các nước trên thế giới

Có thể nói, các quy định về việc xác định hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có tầm ảnh hưởng quan trọng đối với khả năng áp dụng các biện pháp chống bán phá giá trên thực tế.

          Mặt khác, cũng chỉ khi nào chúng ta xác định đúng về hành vi bán phá giá thì việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá mới có tác dụng cần thiết là để ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nước ngoài nói chung và hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam nói riêng. Hơn nữa, khi việc áp dụng các biện pháp này là có căn cứ xác đáng thì quan hệ thương mại của chúng ta với quốc gia hoặc vùng lãnh thổ có hàng hóa bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá không bị căng thẳng. Chính vì thế, việc so sánh các quy định của pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam với Hiệp định Chống bán phá giá của WTO (ADA) và pháp luật chống bán phá giá của các nước trên thế giới là một nội dung cần thiết đối với pháp luật hiện hành Việt Nam về chống bán phá giá và góp phần quan trọng vào việc tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực thi các biện pháp chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam trong thời gian tới.

 

Trước hết, có thể khẳng định rằng, những nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành Việt Nam đối với việc xác định hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam về cơ bản là phù hợp với những quy định của ADA và pháp luật chống bàn phá giá của nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt, là đối với các quy định của Hiệp định Chống bán phá giá của WTO thì pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá đã đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của Hiệp định này, không có quy định trái hoặc mâu thuẫn. Điều này được khẳng định bởi chính ý kiến của đại diên bên phía Việt Nam trong quá trình đàm phán vào WTO. Đồng thời cũng được ghi nhận trong Báo cáo của Ban Công tác: “Theo quan điểm của Việt Nam, pháp luât mới về các Biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp của Việt Nam tuân thủ hoàn toàn với Hiệp định về Trợ cấp và Các biện pháp đối kháng và Hiệp định Chống bán phá giá của WTO”.

 

 

Không những thế, có một số quy định của pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam còn thể hiện được sự tiến bộ và có ưu điểm hơn so với các quy định của Hiệp định ADA và pháp luật chống bán phá giá của nhiều nước trên thế giới, thể hiện:

 

Pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam không có sự phân biệt đối xử khi tính giá thông thường giữa nước có nền kinh tế thi trường với nước không có nền kinh tế phi thị trường. Theo ADA và pháp luật chống bán phá giá của nhiều nước khác như Hoa Kỳ, EU, malayxia, Ấn Độ ….ngoài các cách tính giá thông thường như PLCBPG năm 2004 đã quy định, thì ADA và pháp luật các nước này còn cho phép cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có quyền bỏ qua các cách thức tính giá thông thường nêu trên và tự mình xác định cácc thức mà mình cho là phù hợp nếu nước có sản phẩm bị điều tra chống bán phá giá là nước có nền kinh tế phi thị trường. Thông thường trong trường hợp này sau khi kết luận nước có sản phẩm đang bị điều tra là nước có nền kinh tế phi thị trường thì cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có thể không sử dụng giá bán sản phẩm tường tự tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu mà chọn một nước thứ bat hay thế. Theo đó, giá trị thông thường được xác định dựa trên giá bán sản phẩm tương tự này tại thị trường nước thứ ba. Nước thứ ba thay thế được chọn để xác định giá trị thông thường phải là nước có nền sản xuất sản phẩm tương đồng với nước xuất khẩu sản phẩm bị điều tra để bảo đảm mức độ tương đồng giữa hai thị trường (thị trường của nước thứ ba thay thế và thị trường của nước xuất khẩu có sản phẩm bị điều tra) về chi phí sản xuất, chi phí quản lý, lợi nhuận hợp lý nhằm đảm bảo sự công bằng cho các bên liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn các vụ kiện chống bán phá giá nhằm vào các nước có nền kinh tế bị coi là nền kinh tế phi thị trường đều chứng tỏ việc xác định giá thông thường theo cách này đã không đảm bảo công bằng. Thực tế Việt Nam đã hứng chịu chịu nhiều thiệt hại khi bị sử dụng cách tính này khi bị kiện bán phá giá ở thị trường nước ngoài. Ví dụ: trong vụ kiện chống bán phá giá cá tra và cá ba sa của Việt Nam vào thị trường Mỹ năm 2002.

 

Tuy nhiên, bên cạnh đó thì pháp luật hiện hành Việt Nam về việc xác định hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định so với quy định pháp luật chống bán phá giá của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là so với Hiệp định ADA, thể hiện:

 

- Thứ nhất: Các vấn đề như: thế nào là “điều kiện thương mại thông thường”, thế nào là “hàng hóa tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu với số lượng, khối lượng hoặc trị giá của hàng hóa không đáng kể” hay thế nào là “ giá thành hợp lý” không được PLCBPG năm 2004 quy định. Ngay cả Nghị định số 90/2005 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh cũng không có quy định hướng dẫn. Điều này sẽ gây ra khó khăn cho cơ quan điều tra trong việc xác định hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam nói chung và việc xác định giá thông thường nói riêng. Trong khi đó, pháp luật của Hoa Kỳ và pháp luật nhiều nước trên thế giới và quy định của ADA đều xác định cụ thể những vấn đề này. Ví dụ, khi quy định về “điều kiện thương mại thông thường”, ADA tiếp cận từ mặt trái của nó, tức là chỉ đưa ra các trường hợp không được coi là trong điều kiện thương mại thông thường tại Điều 2.2.1 như sau: “ Việc bán các sản phẩm tương tự tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu hoặc bán sang một nước thứ ba với giá thấp hơn chi phí sản xuất theo đơn vị sản phẩm (bao gồm chi phí cố định và chi phí biến đổi) cộng với các chi phí quản trị, chi phí bán hàng và các chi phí chung có thể được coi là giá không theo các điều kiện thương mại thông thường và có thể không được xem xét tới trong quá trình xác định giá trị thông thường của sản phẩm chỉ khi các cơ quan có thẩm quyền quyết định rằng việc bán hàng đó được thực hiện trong một khoảng thời gian kéo dài với một khối lượng đáng kể và được bán với mức giá không đủ để bù đắp chi phí trong một khoảng thời gian hợp lý”. Thực chất đây chính là trường hợp việc mua bán được thực hiện mà trong đó người bán chịu lỗ vốn, tức là bán với mức giá không đủ đề bù đắp chi phí sản xuất ra đơn vị hàng hóa.

 

- Thứ hai: pháp luật hiện hành Việt Nam không có quy định về nguyên tắc so sánh giữa giá thông thường với giá xuất khẩu  để tính biên độ bán phá giá. Về mặt lý luận và thực tiễn cho thấy, muốn xác định được hành vi bán phá giá với biên độ bán phá giá được xác định cụ thể làm căn cứ để áp dụng biện pháp chống bán phá giá thì cơ quan điều tra chống bán phá giá của nước nhập khẩu phải xác định được giá thông thường, xác định được giá xuất khẩu, sau đó thực hiện các điều chỉnh cần thiết đối với giá thông thường và giá xuất khẩu để đưa chúng về mức tại khâu xuất xưởng. Cuối cùng, tiến hành so sánh giữa giá thông thường với giá xuất khẩu đã được điều chỉnh, qua đó mới tính toán được biện độ bán phá giá cụ thể. Tuy nhiên, quy trình tính toán biên độ bán phá giá như trên đã không được PLCBPG năm 2004 quy định đầy đủ. Nghị định số 90/2005 thì có đề cập đến quy trình này tại Điều 25, Điều 26 và Điều 27 nhưng nguyên tắc trong việc so sanh giá thông thường và giá xuất khẩu như thế nào thì không được quy định. Hạn chế này có thể dẫn đến sự tùy tiện trong việc so sanh giá thông thường và giá xuất khẩu khi tính toán biên độ bán phá giá của cơ quan điều tra chống bán phá giá, dẫn đến kết quả của các cuộc điều tra chống bán phá giá sẽ có nhiều sai lệch.

 

Như vậy, việc còn những hạn chế trong các quy định về xác định hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam như đã phân tích ở trên có thể phần nào gây ra những khó khăn, vướng mắc cho việc áp dụng pháp luật của các cơ quan điều tra chống bán phá giá Việt Nam. Mặt khác, khi chúng ta đã cam kết: “Việt Nam sẽ không áp dụng các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá hoặc thuế chống trợ cho đến khi các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với các điều khoản của các Hiệp định của WTO được thông báo và thực thi” trong Bản cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO đã cho thấy, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật chống bán phá giá Việt Nam để phù hợp với các quy định tiến bộ của pháp luật chống bán phá giá của các nước trên thế giới, đặc biệt là Hiệp định Chống bán phá giá của WTO là điều cần thiết đối với quá trình hội nhập của Việt Nam cũng như thực tiễn chống bán phá giá của Việt Nam trong thời gian tới.

 

 

 

Tin đã đăng