Những điều đáng lưu ý trong nội dung và thủ tục điều tra chống bán phá giá của Ấn Độ

Những năm qua, quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Ấn Độ đã có những bước phát triển mạnh mẽ, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Ấn Độ liên tục tăng trưởng từ 50% đến 70%, thậm chí trên 100% (2010) từ 696 tr USD trong năm 2005, năm 2010 đạt 2,755 tỷ USD. Tuy nhiên, con số này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng to lớn của hai nước. Hơn nữa, đến nay việc xuất khẩu hàng hoá sang thị trường Ấn Độ còn gặp nhiều khó khăn trở ngại do chúng ta thiếu thông tin về hàng hoá, đối tác, chính sách của ấn Độ; bên cạnh đó, hành lang pháp lý của 2 nước cũng không đồng bộ, đặc biệt là pháp luật trong lĩnh vực chống bán phá giá. Do đó, chúng ta càng gặp nhiều khó khăn hơn và dần dần khiến các doanh nghiệp Việt Nam ngần ngại khi có nhu cầu mở rộng thị trường xuất khẩu tại Ấn Độ. Chính vì vậy, tìm hiểu vể những điểm đáng lưu ý trong nội dung và thủ tục điều tra chống bán phá giá của Ấn Độ có thể là bài học tốt cho Việt Nam khi hoàn thiện pháp luật về chống bán phá giá cũng như trong thực tiễn

             Về cơ bản, các nội dung và thủ tục điều tra chống bán phá giá của Ấn Độ tuân thủ các quy định liên quan trong Hiệp định về chống bán phá giá của WTO (ADA). Tuy nhiên, hoạt động điều tra cũng như áp dụng các biện pháp chống bán phá giá ở Ấn Độ có những điểm khác biệt như sau:

 

            Về cơ sở pháp lý của việc khởi xướng, tiến hành điều tra được thực hiện theo các quy định tại các văn bản sau đây:

 

            Quy chế Thuế quan (Xác định hàng hoá, Định giá và Thu thuế hoặc Thuế bổ sung đối với các sản phẩm bán phá giá và Xác định thiệt hại) 1985; Luật Thuế quan 1975 (các Điều 9, 9A, 9AA, 9B và 9C) sửa đổi tháng 7/1995; Quy chế Thuế quan (Xác định hàng hoá, Định giá và Thu thuế hoặc Thuế bổ sung đối với các sản phẩm bán phá giá và Xác định thiệt hại) 1995 sửa đổi năm 1999, 2001, 2002 và 2003; Quy chế Thuế quan (Xác định hàng hoá, Định giá và Thu thuế hoặc Thuế đối kháng đối với các sản phẩm được trợ cấp và Xác định thiệt hại) 1995.

 

            Về trách nhiệm kiểm tra tính xác thực của các chứng cứ và thông tin khác:

 

            Theo quy định tại Điều 8 Quy tắc Thuế quan 1995: “Trừ trường hợp các bên không hợp tác (từ chối cho tiếp cận hoặc từ chối cung cấp thông tin có ảnh hưởng quan trọng đến việc điều tra), cơ quan có thẩm quyền sẽ coi các thông tin do các bên liên quan cung cấp trong quá trình điều tra là xác thực và có thể đưa ra các kết luận dựa trên những chứng cứ đó”.

            Về mặt thực tiễn, quy định này cho phép cơ quan điều tra tiết kiệm được một khối lượng thời gian và công sức lớn trong việc tìm kiếm cũng như kiểm chứng tính xác thực của các chứng cứ. Ngoài ra, đứng từ góc độ lý thuyết điều này cũng là hợp lý bởi kiện chống bán phá giá thực chất là tranh chấp về lợi ích giữa các nhà xuất khẩu hàng hóa nước ngoài và ngành sản xuất trong nước, vì vậy việc họ phải tự chủ động trong việc tìm kiếm chứng cứ xác thực và có sức thuyết phục đối với cơ quan có thẩm quyền là phù hợp. Cơ quan có thẩm quyền chỉ đóng vai trò như là một trọng tài đứng giữa để phân xử cho hai bên.

            Với cách thức xử lý vấn đề như trên của Ấn Độ cho thấy cơ quan điều tra chống bán phá giá ở Ấn Độ còn hạn hẹp về nhân lực và chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn cũng như chưa có nhiều thẩm quyền thực hiện điều tra toàn diện vụ việc chống bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu.

 

            Về biên độ thiệt hại:

 

            Theo quy định của WTO, mức thuế chống bán phá giá không được cao hơn biên độ phá giá. Vận dụng quy tắc này, nhiều nước đã có quy định cho phép tính mức thuế thấp hơn biên độ phá giá (ví dụ Thái Lan, EU) để tính đến lợi ích cộng đồng hoặc lợi ích người tiêu dùng.

            Về vấn đề này, pháp luật Ấn Độ có sự vận dụng linh hoạt theo hướng quy định mức thuế chống bán phá giá không được cao hơn biên độ phá giá hoặc biên độ thiệt hại tùy theo biên độ nào thấp hơn. Cách quy định này cho phép cơ quan có thẩm quyền của Ấn Độ có thể xác định một mức thuế thấp hơn biên độ phá giá không phải để bảo vệ người tiêu dùng hay cộng đồng mà là để đảm bảo tính chất của biện pháp chống bán phá giá theo pháp luật Ấn Độ là khắc phục những thiệt hại do việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá gây ra đối với ngành sản xuất trong nước và thông qua đó đảm bảo một môi trường cạnh tranh công bằng cho ngành sản xuất trong nước.

            Biên độ thiệt hại được tính bằng chênh lệch giữa Giá không bị thiệt hại (non-injury price – NIP) và Giá trị của hàng hóa liên quan tại thời điểm nhập khẩu (landed value). NIP là giá bán hợp lý của hàng hóa tương tự mà ngành sản xuất trong nước của Ấn Độ có thể bán được trong điều kiện thương mại công bằng (được tính bằng tổng số của Giá sản xuất; Chi phí hành chính, bán hàng, chung; và Lợi nhuận hợp lý). Landed value được xác định trên cơ sở giá CIF nhập khẩu của hàng hóa bị điều tra (có thực hiện một số điều chỉnh liên quan đến các chi phí phải trả cho việc nhập khẩu và cộng thêm Thuế quan cơ sở đánh vào hàng hóa đó khi nhập khẩu).

            Với cách tính toán này, việc xác định một mức thuế chống bán phá giá thấp hơn hay bằng biên độ phá giá không phụ thuộc vào quyết định chủ quan của cơ quan có thẩm quyền mà dựa trên cơ sở biên độ thiệt hại được tính toán chi tiết và có căn cứ pháp lý cụ thể.

 

             Về trường hợp nước xuất khẩu là nước có nền kinh tế phi thị trường:

 

            WTO cho phép nước nhập khẩu được tùy ý lựa chọn một phương thức tính Giá thông thường phù hợp trong trường hợp nước xuất khẩu liên quan được xác định là không có nền kinh tế thị trường. Ấn Độ đã vận dụng quy định này theo cách mà nhiều nước cũng đang áp dụng.

            Cụ thể, Ấn Độ quy định nước có nền kinh tế phi thị trường là nước mà cơ quan có thẩm quyền của Ấn Độ xác định là không hoạt động theo các nguyên tắc thị trường về giá hoặc cấu trúc giá và do đó giá bán của hàng hóa tại nước đó không phản ánh giá trị công bằng của hàng hóa. Quy định này không mới so với WTO. Tuy nhiên, luật Ấn Độ còn có quy định thêm về các trường hợp được suy đoán là nền kinh tế phi thị trường, bao gồm các nước đã từng bị cơ quan có thẩm quyền của Ấn Độ về chống bán phá giá xác định là nước có nền kinh tế phi thị trường hoặc bị cơ quan có thẩm quyền trong vụ việc chống bán phá giá của bất kỳ nước thành viên nào của WTO xác định là có nền kinh tế phi thị trường trong vòng 3 năm liền trước vụ điều tra liên quan. Tuy nhiên, Ấn Độ cũng xem xét một số ngoại lệ nếu nước bị coi là có nền kinh tế phi thị trường liên quan hoặc doanh nghiệp của nước đó chứng minh được rằng mình hoạt động theo các nguyên tắc thị trường.

            Đối với các trường hợp bị xem là nước có nền kinh tế phi thị trường, cơ quan có thẩm quyền của Ấn Độ sẽ xác định Giá thông thường của hàng hóa liên quan theo nguyên tắc: xác định theo Giá tính toán (constructed value) của hàng hóa tại thị trường một nước thứ ba hoặc Giá của hàng hóa được xuất từ nước thứ ba đó sang một nước khác. Cơ quan có thẩm quyền của Ấn Độ có trách nhiệm lựa chọn một nước thứ ba có nền kinh tế thị trường có điều kiện phát triển kinh tế và điều kiện sản xuất tương tự nước xuất khẩu liên quan. Các bên liên quan được dành thời gian và cơ hội để trình bày lập luận của mình về lựa chọn này của cơ quan có thẩm quyền.

            Trường hợp không xác định được Giá thông thường theo cách trên thì áp dụng một phương thức hợp lý bất kỳ (bao gồm cả cách xác định theo giá bán thực tế hoặc giá bán có thể chấp nhận được trên lãnh thổ Ấn Độ của hàng hóa tương tự có điều chỉnh).

            Về cơ bản, quy định và thực tiễn về chống bán phá giá của Ấn Độ tuân thủ các nguyên tắc chung của WTO. Tuy nhiên, quá trình cụ thể hóa bằng pháp luật và thực thi trên thực tiễn của Ấn Độ về vấn đề này lại mang đến những bài học quan trọng mà Việt Nam có thể học tập nhằm hoàn thiện pháp luật về chống bán phá giá cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng đẩy mạnh xuất khẩu của nước ta tại Ấn Độ trong thời gian tới.

 

Tin đã đăng