Quy định mới của Nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng liệu có thiếu tính khả thi?

Ngày 30 tháng 6 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ. Nghị định 56/2009/NĐ-CP với hai điểm mới nổi bật so với Nghị định số 90/2001/NĐ-CP: Một là Nghị định đưa ra định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hai là việc thành lập Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, hai quy định mới này có thực sự khả thi và tạo ra cơ chế tốt trợ giúp doanh nghiệp.

1. Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa:

 

 

Điều 3 của Nghị định định nghĩa Doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: “ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”.

 

 

 

Kết hợp với bảng phân loại, có thể thấy theo Nghị định, doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân chia dựa theo các tiêu chí: Quy mô về vốn, Quy mô về số lao động và Khu vực. Trong đó quy mô về nguồn vốn được chú trọng. Đây cũng chính là sự bất hợp lý trong phân loại. Bởi lẽ, tổng nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn của chủ sở hữu và vốn huy động dưới các hình thức khác nhau. Trong khi vốn chủ sở hữu là tương đối ổn định, được ghi nhận trong điều lệ doanh nghiệp và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì vốn huy động lại thường xuyên biến động. Do đó, tổng nguồn vốn này của doanh nghiệp cũng thường xuyên biến động. Vì vậy, hôm nay, một doanh nghiệp được xếp vào loại doanh nghiệp nhỏ nhưng ngay ngày mai có thể đã trở thành doanh nghiệp vừa và ngược lại. Ví dụ, một doanh nghiệp trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp có vốn điều lệ là 18 tỉ đồng.

 

Ngày 1-10 trong năm, doanh nghiệp vay 7 tỉ đồng vốn lưu động với thời hạn sáu tháng và tổng nguồn vốn của doanh nghiệp là 25 tỉ đồng. Căn cứ vào bảng cân đối kế toán doanh nghiệp vào ngày 31-12 của năm, doanh nghiệp này được coi là doanh nghiệp vừa. Song, hết quí 1 năm sau, doanh nghiệp trả hết tiền vay và tổng nguồn vốn của doanh nghiệp chỉ còn lại 18 tỉ đồng, ngay lập tức, doanh nghiệp lại trở thành doanh nghiệp nhỏ.

Sự phân biệt thành doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa là để thực hiện các chính sách trợ giúp cho phù hợp. Song, doanh nghiệp “siêu nhỏ, nhỏ và vừa” lại biến thiên rất nhanh như vậy, liệu các chính sách trợ giúp sẽ biến thiên như thế nào?

 

 

Hơn nữa, sự phân loại này thực sự không có ý nghĩa trong thi hành. Bởi lẽ trong khi  Điều 3 của Nghị định quy định khá chi tiết về ba loại doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa. Nhưng những chính sách trợ giúp được quy định ở các điều khoản tiếp sau lại hoàn toàn không có sự phân biệt với ba loại quy mô này.

 


 

2. Sự thành lập Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa:

 

 

Theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP đã thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng. Tám năm sau những quy định về quỹ này vẫn còn rất ít những Quỹ bảo lãnh tín dụng được thành lập. So sánh về cơ chế huy động nguồn vốn và các hoạt động của Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa mới thành lập với Quỹ bảo lãnh tín dụng sẽ cho ta thấy: Những quy định về Quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ còn không có tính khả thi hơn cả Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

 

 

 

 

Nguyên nhân chính khiến Quỹ bảo lãnh tín dụng không phát triển chính là không tạo được nguồn vốn lớn cho quỹ hoạt động. Ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ cho quỹ này không nhiều. Việc huy động được sự đóng góp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của quỹ này còn hạn chế. Bởi lẽ các doanh nghiệp này cũng rất ít vốn và họ không muốn góp một khoản tiền vào quỹ để chờ đợi sẽ được bảo lãnh khi cần vay vốn. Vừa qua, một khoản tiền lớn từ “gói kích cầu” của Chính phủ mới giúp quỹ này hoạt động.

 

 

Quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ theo điểm b khoản 4 Điều 7 có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, vốn góp của các tổ chức trong nước, các khoản viện trợ, tài trợ của các tổ chức nước ngoài, các tổ chức quốc tế, lợi nhuận từ các hoạt động của Quỹ và các nguồn vốn hợp pháp khác. Những nguồn vốn này có thực sự nhiều và ổn định?

 

 

Hơn thế, việc góp vốn vào quỹ này từ doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng không hấp dẫn được doanh nghiệp, bởi lẽ quỹ để chi cho các chương trình trợ giúp nên nguồn vốn cũng không bảo toàn như Quỹ bảo lãnh tín dụng, hơn nữa diện chi hẹp hơn so với Quỹ bảo lãnh tín dụng, bởi vậy, việc góp vốn vào quỹ để nhận trợ giúp là rất ít tính khả thi.

 

 

 


 

 

Tin đã đăng

  • Du Học Mỹ

  • Du Học Úc

  • Du Học Hà Lan