Dự án Luật Giám định tư pháp

Tại kỳ họp thứ 2, Chính phủ trình Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật giám định tư pháp (Luật GĐTP). Theo đó

1. Về phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật và tên gọi của Luật (Điều 1)

Về vấn đề này, nhiều ý kiến nhất trí với phạm vi điều chỉnh như dự thảo Luật. Bên cạnh đó, một số ý kiến đề nghị bổ sung quy định nguyên tắc nhằm phân định rạch ròi giữa phạm vi điều chỉnh của Luật GĐTP với các luật khác; có ý kiến đề nghị chỉnh lý điều luật quy định về phạm vi điều chỉnh từ Điều 2 của dự thảo Luật Chính phủ trình Quốc hội lên Điều 1 cho phù hợp với kỹ thuật lập pháp. Ngoài ra, có ý kiến đề nghị sửa tên Luật thành “Luật giám định” để điều chỉnh cả hoạt động giám định phục vụ các nhu cầu khác.

 

Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, phạm vi điều chỉnh của Luật GĐTP được xác định bao gồm: giám định viên tư pháp; tổ chức giám định tư pháp; người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc; hoạt động giám định tư pháp; về chi phí GĐTP; chế độ, chính sách và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với tổ chức, hoạt động GĐTP. Về cơ bản, phạm vi điều chỉnh của Luật được kế thừa, luật hóa quy định của Pháp lệnh GĐTP năm 2004. Mặt khác, tổ chức và hoạt động GĐTP có nhiệm vụ bổ trợ cho nhiều hoạt động tố tụng khác nhau như hình sự, dân sự và hành chính, trong từng lĩnh vực, các nguyên tắc hoạt động GĐTP đã được pháp luật tố tụng quy định cụ thể, đối chiếu với các quy định của các đạo luật này, phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật GĐTP không mâu thuẫn, chồng chéo. Đối với những nội dung quy định có sự giao thoa giữa Luật GĐTP và pháp luật về tố tụng thì theo nguyên tắc của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, sẽ được áp dụng theo quy định của Luật GĐTP. Về tên gọi của Luật, với phạm vi điều chỉnh như đã nêu trên, tên gọi “Luật giám định tư pháp” là phù hợp. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhu cầu giám định để phục vụ mục đích khác, thì quá trình thực hiện dịch vụ giám định đó sẽ do pháp luật về dân sự và pháp luật khác điều chỉnh. Do đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị cho giữ quy định về phạm vi điều chỉnh và tên gọi như dự thảo Luật. Về kỹ thuật lập pháp, tiếp thu ý kiến ĐBQH, phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật đã được chỉnh lý lên Điều 1, nội dung quy định về khái niệm giám định tư pháp được chuyển xuống khoản 1 Điều 2 về giải thích từ ngữ. 

 

2. Về quyền của đương sự được tự mình trực tiếp yêu cầu thực hiện giám định tư pháp (Điều 2, Điều 22)

Về vấn đề này, có hai loại ý kiến chính: Loại ý kiến thứ nhất, tán thành với quy định của dự thảo Luật. Bên cạnh đó, một số ý kiến đề nghị mở rộng quyền này đối với các đương sự như người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong trường hợp vấn đề dân sự được giải quyết cùng với vụ án hình sự; ngoài ra, có ý kiến đề nghị mở rộng quyền này đối với cả bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Loại ý kiến thứ hai, đề nghị không quy định nội dung này trong dự thảo Luật GĐTP.

Ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng, việc mở rộng quyền của đương sự được tự mình yêu cầu GĐTP để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong hoạt động tố tụng, bảo đảm quyền cung cấp chứng cứ của đương sự trong các vụ việc dân sự và vụ án hành chính là phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 49-NQ/TW). Bên cạnh đó, trong các vụ án hình sự có giải quyết vấn đề dân sự thì khi tham gia tố tụng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ như đương sự trong các vụ việc dân sự thông thường khác. Nếu không quy định quyền trực tiếp yêu cầu GĐTP của đương sự trong trường hợp này, sẽ tạo ra sự bất bình đẳng trong quan hệ pháp luật tố tụng. Riêng đối với bị can, bị cáo, theo nguyên tắc tố tụng hình sự, việc chứng minh tội phạm thuộc trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định đã được Bộ luật tụng hình sự quy định cụ thể, nên không cần quy định quyền yêu cầu GĐTP của các đối tượng này. Do vậy, Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội cho tiếp thu, chỉnh lý quy định về vấn đề này theo hướng, quy định cụ thể người yêu cầu giám định bao gồm đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo (khoản 3 Điều 2). Đồng thời, các đối tượng nêu trên chỉ được tự mình yêu cầu giám định sau khi đã yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận (khoản 1 Điều 22).

3. Về giám định viên tư pháp và hồ sơ đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp (Điều 7, Điều 8)

            Có ý kiến đề nghị tăng thời gian hoạt động chuyên môn của người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp dài hơn 5 năm; có ý kiến cho rằng thời hạn nêu trên nên rút ngắn hơn (khoảng 3 năm). Bên cạnh đó, có ý kiến đề nghị bỏ quy định về chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ đối với người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp ở lĩnh vực giám định pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự. Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về thẩm quyền quy định tiêu chuẩn cụ thể tiêu chuẩn bổ nhiệm giám định viên. Ngoài ra, có ý kiến đề nghị cần bổ sung quy định về các loại giấy tờ của người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp. 

            Về vấn đề này, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, người được đề nghị bổ nhiệm làm giám định viên tư pháp, ngoài các yêu cầu về trình độ chuyên môn thì cần có thời gian nhất định để tích lũy kinh nghiệm trong lĩnh vực GĐTP sẽ đảm nhận. Tổng kết thực tiễn thi hành Pháp lệnh GĐTP năm 2004 cho thấy, quy định thời gian 5 năm hoạt động chuyên môn đối với người được đề nghị bổ nhiệm làm giám định viên tư pháp về cơ bản là phù hợp. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực giám định đặc thù như pháp y thì việc đánh giá năng lực, kinh nghiệm chuyên môn của người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên cần thông qua số lượng vụ việc giám định thực tế mà họ đã tham gia với tư cách là người trợ giúp cho giám định viên pháp y, mà không nhất thiết phải đủ thời hạn chung. Vì vậy, tiếp thu ý kiến ĐBQH, Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị chỉnh lý theo hướng, giữ quy định chung về thời gian thực tế hoạt động chuyên môn của người được đề nghị bổ nhiệm làm giám định viên tư pháp là 5 năm, trường hợp người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên pháp y đã tham gia trợ giúp giám định viên trong lĩnh vực này với số lượng lớn vụ việc thì thời gian hoạt động thực tế chuyên môn từ đủ 3 năm trở lên (đoạn 2 điểm b khoản 1 Điều 7).

            Đối với người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp ở lĩnh vực giám định pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự, đây là các lĩnh vực giám định cơ bản, việc thực hiện giám định có liên quan trực tiếp đến con người, nên giám định viên các lĩnh vực này phải bảo đảm các yêu cầu cao nhất về chuyên môn cũng như trình độ được đào tạo. Vì vậy, Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị cho giữ quy định về chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ đối với người được đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp ở 3 lĩnh vực nói trên. Đồng thời, tiếp thu ý kiến ĐBQH, dự thảo Luật cũng đã bổ sung quy định thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trong việc quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với giám định viên từng lĩnh vực (khoản 3 Điều 7); bổ sung quy định về sơ yếu lý lịchphiếu lý lịch tư pháp vào hồ sơ đề nghị bổ nhiệm giám định viên tư pháp (Điều 8)

 4. Về tổ chức giám định tư pháp công lập (Điều 12)

4.1. Về tổ chức giám định pháp y

Về vấn đề này, có hai loại ý kiến: Loại ý kiến thứ nhất, nhất trí với quy định dự thảo Luật, theo đó, không quy định Giám định viên pháp y tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an cấp tỉnh, mà tập trung hoạt động giám định pháp y vào tổ chức giám định pháp y thuộc ngành Y tế. Loại ý kiến thứ hai, đề nghị cho giữ quy định về giám định viên pháp y thuộc Phòng kỹ thuật hình sự Công an cấp tỉnh như quy định hiện hành.

Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, giám định pháp y là lĩnh vực khoa học y tế chuyên sâu, do ngành y tế đào tạo và quản lý về mặt chuyên môn. Đây cũng là lĩnh vực có nhu cầu lớn nhất và thường xuyên nhất trong hoạt động tố tụng hình sự. Vì vậy, việc hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của các tổ chức giám định pháp y, bảo đảm hoạt động đúng đắn của các cơ quan tiến hành tố tụng có ý nghĩa rất quan trọng. Do còn nhiều ý kiến khác nhau[1], nên để có cơ sở tiếp thu, chỉnh lý quy định về vấn đề này, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã giao Ủy ban tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan khảo sát thực trạng tổ chức và hoạt động giám định pháp y tại một số tỉnh và lấy ý kiến các cơ quan chức năng địa phương trong cả nước. Kết quả khảo sát và tổng hợp ý kiến của các địa phương cho thấy, thực trạng tổ chức giám định pháp y hiện nay đang tạo ra sự thiếu thống nhất, manh mún, khó có thể tập trung đầu tư phát triển theo hướng chuyên trách, chính quy, hiện đại, nâng cao chất lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao đối với công tác giám định pháp y (có địa phương có cả tổ chức giám định pháp y thuộc ngành Y tế và bộ phận giám định pháp y thuộc phòng kỹ thuật hình sự Công an cấp tỉnh; có địa phương chỉ có tổ chức giám định pháp y thuộc ngành Y tế; có địa phương tuy có cả hai, nhưng không phân định rõ thẩm quyền giữa pháp y Y tế và pháp y Công an hoặc tổ chức giám định pháp y thuộc ngành Y tế chủ yếu làm giám định về pháp y trên người sống còn giám định tử thi chủ yếu do bộ phận pháp y thuộc phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh đảm nhiệm[2]). Vì vậy, hầu hết các ý kiến địa phương được khảo sát đều thống nhất cho rằng, cần tập trung hoạt động giám định pháp y ở cấp tỉnh vào một đầu mối, tạo điều kiện thuận lợi để Chính phủ đầu tư về cơ sở vật chất, nhân lực, xây dựng hệ thống tổ chức giám định pháp y chính quy, hiện đại, chuyên nghiệp hóa cao. Đây cũng là phương án Chính phủ trình Quốc hội. Tuy nhiên, nhiều ý kiến thảo luận tại tổ và hội trường của đại biểu Quốc hội cũng như kết quả khảo sát cho thấy, trong bối cảnh các tổ chức giám định pháp y cấp tỉnh thuộc ngành Y tế chậm được kiện toàn do nhiều yếu tố, nên thời gian trước mắt vẫn chưa thể đảm đương được toàn bộ nhiệm vụ giám định pháp y. Do đó, mặc dù việc tập trung đầu mối về giám định pháp y ở cấp tỉnh là chủ trương đúng đắn, nhưng cần có lộ trình thực hiện thích hợp trên cơ sở cân nhắc kỹ tình hình thực tế của từng địa phương. Trước mắt, ở các địa phương đang có giám định viên pháp y trong Công an cấp tỉnh thì vẫn tiếp tục duy trì giám định viên pháp y tại các Phòng kỹ thuật hình sự thực hiện giám định pháp y về tử thi, bảo đảm phục vụ kịp thời cho hoạt động tố tụng hình sự, nhất là đối với các vụ án phức tạp, nghiêm trọng.

Từ những vấn đề nêu trên, Điều 12 dự thảo Luật quy định về tổ chức GĐTP công lập, Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến hai phương án để Quốc hội xem xét, quyết định:

Phương án thứ nhất, giữ quy định như dự thảo Luật, đồng thời Quốc hội sẽ ban hành Nghị quyết thi hành Luật GĐTP, trong đó xác định rõ lộ trình chuyển giao nhiệm vụ giám định pháp y ở cấp tỉnh từ Phòng kỹ thuật hình sự Công an cấp tỉnh sang tổ chức giám định pháp y thuộc ngành Y tế. 

- Phương án thứ hai, căn cứ vào nhu cầu và điều kiện thực tế của địa phương, Công an cấp tỉnh có giám định viên pháp y thực hiện giám định pháp y tử thi (khoản 5 Điều 12 phương án 2).

4.2. Về tổ chức giám định pháp y tâm thần

Về vấn đề này, có hai loại ý kiến: loại ý kiến thứ nhất, nhất trí với quy định của dự thảo Luật; loại ý kiến thứ hai, đề nghị vẫn quy định về tổ chức giám định pháp y tâm thần  như hiện tại.

Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, qua tổng kết thực tiễn thi hành Pháp lệnh GĐTP năm 2004 cho thấy, pháp y tâm thần là lĩnh vực giám định có nhu cầu không lớn, không thường xuyên, nhưng do tính chất phức tạp của việc giám định, quá trình thực hiện giám định pháp y tâm thần thường kéo dài và phải gắn với bệnh viện tâm thần. Thực tế, tổ chức và hoạt động giám định pháp y tầm thần cấp tỉnh như hiện hành đã bộc lộ nhiều bất cập, thiếu hiệu quả, dàn trải, lãng phí về nhân lực và cơ sở vật chất. Quy định như dự thảo Luật sẽ cơ bản khắc phục tình trạng này, vì vậy, Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị cho giữ quy định về vấn đề này như dự thảo Luật.

 

4.3. Về nguyên tắc tổ chức hệ thống GĐTP

 

Một số ý kiến cho rằng, việc giám định cần có điểm dừng mang tính “chung kết” để tạo thuận lợi cho cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Do vậy, dự thảo Luật cần quy định cơ cấu tổ chức hệ thống GĐTP theo hướng phân định “cấp trên – cấp dưới”. Trường hợp có mâu thuẫn về kết luận giám định thì kết luận của tổ chức GĐTP “cấp trên” (các tổ chức GĐTP ở Trung ương) có giá trị.

Về vấn đề này, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng, để bảo đảm sự khách quan trong hoạt động bổ trợ tư pháp thì hệ thống các tổ chức GĐTP công lập không nên tổ chức theo nguyên tắc phân cấp và chịu sự chi phối về quan hệ hành chính. Hơn nữa, kết luận GĐTP là ý kiến mang tính chuyên môn, khoa học và là một trong những nguồn chứng cứ để cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá và quyết định sử dụng khi giải quyết vụ án nếu kết luận đó phù hợp với các chứng cứ khác. Vì vậy, không nên đặt vấn đề kết luận của tổ chức GĐTP “cấp trên” có giá trị hơn kết luận của tổ chức GĐTP “cấp dưới”. Trường hợp có sự khác nhau giữa các kết luận giám định thì cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng quyết định trưng cầu giám định lại. Quy định này cũng phù hợp với thông lệ chung của nhiều nước trên thế giới. Do đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị cho giữ quy định về tổ chức hệ thống GĐTP công lập như dự thảo Luật.

5. Về tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập (Điều 14)

Về vấn đề này, có 2 loại ý kiến chính: Loại ý kiến thứ nhất, nhất trí với quy định của dự thảo Luật về tổ chức GĐTP ngoài công lập để cụ thể hóa chủ trương xã hội hóa hoạt động GĐTP; một số ý kiến đề nghị chỉ nên giới hạn ở một số lĩnh vực nhất định, có nhu cầu tương đối phổ biến. Loại ý kiến thứ hai, đề nghị chưa nên quy định nội dung này vào dự thảo Luật.

Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, để cụ thể hoá nội dung của Nghị quyết số 49-NQ/TW về xã hội hóa hoạt động GĐTP, việc quy định cho phép thành lập các tổ chức GĐTP ngoài công lập là cần thiết và hoàn toàn khả thi. Thực tế nhiều năm qua, ngoài 3 lĩnh vực giám định cơ bản là pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự do các tổ chức giám định tư pháp nhà nước đảm nhiệm thì nhiều trường hợp, cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải trưng cầu cá nhân hoặc tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện giám định tư pháp (ví dụ: các lĩnh vực tài chính – kế toán, xây dựng, cổ vật, di vật…). Như vậy, việc cho phép thành lập Văn phòng GĐTP ngoài công lập là bước phát triển tiếp theo, mở rộng hình thức xã hội hóa theo hướng chuyên nghiệp, nhằm phát huy năng lực của các doanh nghiệp, cá nhân đang hoạt động trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động GĐTP. Tuy nhiên, việc xã hội hóa hoạt động GĐTP cần có bước đi thích hợp, trước mắt chỉ nên cho phép thành lập tổ chức GĐTP ngoài công lập ở một số lĩnh vực tương đối phổ biến và thực tế đã phát sinh như đã nói trên. Do đó, tiếp thu ý kiến ĐBQH, Điều 14 dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng, cho phép thành lập các tổ chức GĐTP ngoài công lập để giám định trong một số lĩnh vực như: tài chính – kế toán; ngân hàng; xây dựng; cổ vật; di vật; bản quyền tác giả. Còn các lĩnh vực khác, việc GĐTP sẽ do tổ chức, cá nhân giám định theo vụ việc đảm nhận. 

6. Về điều kiện thành lập và đăng ký hoạt động của Văn phòng GĐTP (Điều 15, Điều 17)

Có ý kiến đề nghị cần quy định Văn phòng GĐTP phải có ít nhất 3 giám định viên. Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về thời hạn thông báo trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ chối cấp phép thành lập Văn phòng GĐTP.

Về vấn đề này, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, xuất phát từ đặc thù của hoạt động GĐTP, người có đủ tiêu chuẩn được bổ nhiệm giám định viên tư pháp đều có thể được cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu thực hiện việc giám định (với tư cách cá nhân hoặc tham gia hội đồng giám định). Đối với tổ chức GĐTP ngoài công lập, việc quy định giám định viên tư pháp thành lập Văn phòng GĐTP nhằm bảo đảm tư cách pháp lý trong tổ chức và hoạt động, phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự, Luật doanh nghiệp và các luật liên quan khác. Trong điều kiện hiện nay, việc quy định Văn phòng GĐTP phải có từ 3 giám định viên trở lên là không khả thi, thực tế, tổ chức GĐTP công lập cũng không quy định số lượng giám định viên tư pháp bắt buộc phải có. Vì vậy, Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị cho giữ quy định về Văn phòng GĐTP (Điều 15) như dự thảo Luật.

7. Về giám định bổ sung, giám định lại và việc giải quyết trường hợp kết luận giám định lần đầu khác với kết luận giám định lại (Điều 29, Điều 30)

Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định cụ thể về việc giám định bổ sung, giám định lại. Có ý kiến cho rằng, quy định về Hội đồng giám định là không phù hợp với pháp luật về tố tụng. Ngoài ra, có ý kiến đề nghị cần quy định rõ địa vị pháp lý của Hội đồng giám định theo nguyên tắc “cấp trên – cấp dưới”; có ý kiến đề nghị quy định cụ thể cơ chế để xác định “quyết định giám định cuối cùng”.

 Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, việc giám định bổ sung, giám định lại có liên quan mật thiết đến quan hệ pháp luật về tố tụng. Trong điều kiện các đương sự cũng được quyền trực tiếp yêu cầu tổ chức GĐTP thực hiện giám định (lần đầu) như đã nêu trên, việc giám định bổ sung, giám định lại cần có quy định chặt chẽ, bảo đảm phù hợp với nguyên tắc của pháp luật về tố tụng và phục vụ hiệu quả cho hoạt động này. Vì vậy, tiếp thu ý kiến ĐBQH, dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng quy định rõ về điều kiện, thầm quyền trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại (Điều 29).

Về quy định Hội đồng giám định nhằm giải quyết mâu thuẫn về kết luận giám định, như đã nêu trên, kết luận GĐTP là văn bản mang tính khoa học, làm căn cứ cho cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem xét, đánh giá và quyết định khi giải quyết vụ án, không nên quy định Hội đồng giám định “cấp trên – cấp dưới” và kết luận của Hội đồng “cấp trên” có giá trị pháp lý. Vì vậy, Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị cho giữ quy định về Hội đồng giám định như dự thảo Luật (Điều 30).

Ngoài ra, dự thảo luật cũng quy định về nguyên tắc khi đã có kết luận của Hội đồng giám định lại lần thứ hai thì chỉ trong trường hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thể quyết định giám định lại nhằm tránh việc giám định lại nhiều lần không cần thiết, gây tốn kém và kéo dài quá trình tố tụng (khoản 2 Điều 30).

8. Về chi phí giám định tư pháp (Điều 36)

Có ý kiến đề nghị không quy định việc thu phí, chi phí đối với hoạt động GĐTP. Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể việc miễn, giảm phí, chi phí GĐTP, bảo đảm quyền lợi cho đương sự thuộc diện nghèo hoặc thuộc đối tượng chính sách.

 Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, hoạt động GĐTP là một loại hình dịch vụ, ngoài các tổ chức GĐTP công lập thì còn có các Văn phòng GĐTP hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, vì vậy, việc quy định về chi phí GĐTP là cần thiết. Tuy nhiên, việc quy định về chi phí GĐTP (gồm cả phí) thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội, do đó, Chương VI dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng, chỉ quy định về nguyên tắc chịu trách nhiệm trả chi phí (Điều 36). Các nội dung cụ thể về chi phí giám định, việc miễn, giảm chi phí giám định tư pháp do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể[3].

9. Về chính sách đối với hoạt động giám định tư pháp (Điều 38)

Về vấn đề này, có ý kiến nhất trí với quy định của dự thảo Luật. Có ý kiến đề nghị không quy định chế độ ưu đãi đối với các tổ chức GĐTP ngoài công lập.

 Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, để bảo đảm tính khả thi của việc thực hiện xã hội hóa hoạt động GĐTP, tạo cơ chế thu hút các chuyên gia giỏi tham gia vào hoạt động trong lĩnh vực này thì quy định về ưu đãi đối với các tổ chức GĐTP ngoài công lập là cần thiết. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách ưu đãi cần bảo đảm sự thống nhất, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, tiếp thu ý kiến ĐBQH, Điều 38 dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng, bỏ quy định về chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, đồng thời, giao Chính phủ quy định chi tiết về chính sách ưu đãi đối với các tổ chức GĐTP ngoài công lập.

 

 10. Về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với tổ chức, hoạt dộng giám định tư pháp

Có ý kiến đề nghị dự thảo Luật cần quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc quản lý nhà nước về GĐTP trong từng lĩnh vực.

Tiếp thu ý kiến ĐBQH, các điều luật tại Chương VII dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng, quy định cụ thể nội dung quản lý nhà nước và nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ (các điều: 41, 42 và 43). Đối với 3 lĩnh vực GĐTP cơ bản là giám định pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự, có lĩnh vực do hệ thống tổ chức giám định của nhiều bộ cùng thực hiện, để xác định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước, dự thảo Luật đã xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Y tế trong việc quản lý nhà nước về giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần; Bộ Công an chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về giám định kỹ thuật hình sự (Điều 44).

11. Về điều khoản chuyển tiếp

Có ý kiến nhất trí với quy định của dự thảo Luật về điều khoản chuyển tiếp. Có ý kiến đề nghị bỏ quy định này vì mẫu thuẫn với điều luật quy định về hiệu lực của Luật.

Tiếp thu ý kiến ĐBQH, dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng bỏ quy định về điều khoản chuyển tiếp. Đối với việc sắp xếp, kiện toàn lại tổ chức giám định pháp y, sẽ được quy định cụ thể trong Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Luật giám định tư pháp.

Ngoài những nội dung nêu trên, tiếp thu ý kiến các vị ĐBQH, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo các cơ quan hữu quan rà soát, chỉnh lý nhiều điều khoản khác của dự thảo Luật cả về nội dung và kỹ thuật lập pháp.

 



  [1] Có 31 ý kiến ĐBQH phát biểu nhất trí với ý kiến thứ nhất; 63 ý kiến ĐBQH phát biểu nhất trí với ý kiến thứ hai.

   [2] Hiện nay 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc TW đều có đều có tổ chức giám định pháp y thuộc ngành Y tế, gồm: 39 Trung tâm GĐPY, 16 phòng GĐPY, còn 8 tỉnh tổ chức giám định pháp y theo Nghị định 117/HĐBT; có 13/63 Công an cấp tỉnh không có giám định viên pháp y, có 04 cơ quan Công an cấp tỉnh có giám định viên pháp y, nhưng không làm giám định pháp y.

[3] Pháp lệnh chi phí giám định, định giá; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch trong tố tụng đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua tại phiên họp thứ sáu (3/2012).


Tin đã đăng