GIỚI THIỆU CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ (CISG)

Cộng đồng các quốc gia tham gia Công ước CISG chào đón Việt Nam trở thành quốc gia thành viên của Công ước mà đến thời điểm hiện nay có thể gọi là Công ước quốc tế thành công nhất trong lĩnh vực pháp luật nội dung của tư pháp quốc tế. Như phần lớn quý vị đã biết, Công ước CISG được thông qua tại Hội nghị Viên năm 1980, có hiệu lực từ tháng 1 năm 1988 sau khi Hoa Kỳ và Trung Quốc quyết định đồng thời tham gia Công ước và theo đó đáp ứng đủ yêu cầu cần thiết về số lượng cho phép Công ước có hiệu lực. Hiện nay, Công ước CISG có 85 quốc gia thành viên. Chín trong số mười nền kinh tế lớn nhất trên thế giới đều là thành viên của Công ước, chỉ có trường hợp ngoại lệ duy nhất là Vương quốc Anh. Hiện nay, Công ước CISG điều chỉnh khoảng hơn 80% giao dịch thương mại toàn cầu. Hàng tháng, chúng ta đều thấy những tin tức đáng khích lệ liên quan đến Công ước CISG như việc các quốc gia rút lại các điều khoản bảo lưu mình đã tuyên bố trước đây, ví dụ trường hợp của Trung Quốc đã rút lại điều kho

 1.    Những yêu cầu chung

 

Điều 1.1.a Công ước CISG chỉ đơn giản yêu cầu các bên phải có địa điểm kinh doanh tại các quốc gia thành viên khác nhau của Công ước. Như vậy, với 85 quốc gia thành viên Công ước như hiện này, phần lớn các hợp đồng mua bán của doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác nước ngoài đều sẽ được điều chỉnh bởi Công ước, đặc biệt là những đối tác tại Australia, châu Âu, Hoa Kỳ và châu Mỹ La tinh.

 

Địa điểm kinh doanh là yếu tố quyết định còn các yếu tố khác như quốc tịch của các bên hay năng lực doanh nghiệp theo tiêu chuẩn quốc gia sẽ không được xem xét. Tuy nhiên, quy định này thông thường sẽ không được áp dụng đối với các hợp đồng B2C (giao dịch thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với khách hàng).

 

Mặc dù phần lớn các hợp đồng được điều chỉnh bởi Công ước CISG vì cả hai bên đều có địa điểm kinh doanh tại các quốc gia thành viên, tuy nhiên vẫn có khả năng áp dụng quy định của Công ước trong trường hợp không thỏa mãn điều kiện tiên quyết này. Theo quy định tại điều 1.1.b của Công ước, Công ước cũng sẽ được áp dụng trong trường hợp các bên có địa điểm kinh doanh ở các quốc gia khác không phải là quốc gia thành viên của Công ước nếu các quy tắc của tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến việc áp dụng luật của một quốc gia thành viên của Công ước này. Tuy nhiên, có thể tuyên bố bảo lưu đối với quy định này của Công ước. Đáng chú ý có Hoa Kỳ và Trung Quốc đã bảo lưu quy định này; rất may là Việt Nam đã không áp dụng quyền bảo lưu trong trường hợp trên. Trên thực tế, việc một số quốc gia tuyên bố bảo lưu quy định nói trên cũng không có ảnh hưởng quan trọng đến việc áp dụng Công ước CISG tại Việt Nam.

 

2.    Lựa chọn áp dụng hoặc không áp dụng

 

Công ước CISG được dựa trên nền tảng nguyên tắc tự do trong giao kết hợp đồng. Thứ nhất, về mặt nguyên tắc, điều này có nghĩa Công ước CISG không có bất kỳ quy định bắt buộc nào, các bên hoàn toàn tự do trong việc định dạng hợp đồng mà theo họ là phù hợp. Thứ hai, các bên có thể cùng nhau lựa chọn không áp dụng Công ước CISG theo quy định tại điều 6 Công ước.

 

Tuy nhiên, việc loại trừ áp dụng cũng không phải là một việc dễ dàng. Nếu các bên đã lựa chọn pháp luật của một quốc gia thành viên Công ước, ví dụ pháp luật của Thụy Sỹ, thì cũng không đồng nghĩa với việc loại trừ hoàn toàn quy định của Công ước. Công ước CISG là một phần của luật pháp Thụy Sỹ; bản thân Công ước chính là phần pháp luật của Thụy Sỹ điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Để hoàn toàn loại trừ việc áp dụng Công ước CISG, các bên cần sử dụng từ ngữ rõ ràng hơn, ví dụ “áp dụng pháp luật của Thụy Sỹ loại trừ các quy định của Công ước CISG” hay “áp dụng Bộ luật nghĩa vụ của Thụy Sỹ”.

 

Tuy nhiên, việc loại trừ áp dụng chắn chắn không phải là một lựa chọn được khuyến khích cho các doanh nghiệp Việt Nam. Thử tưởng tượng nếu một hợp đồng mua bán hàng hóa giữa đối tác Brazil và Việt Nam và các bên chọn pháp luật quốc gia Thụy Sỹ để giải quyết tranh chấp bằng cơ chế trọng tài như thông lệ phổ biến hiện nay, các bên sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn khi tranh chấp xảy ra. Thứ nhất là vấn đề ngôn ngữ, các bên phải nghiên cứu pháp luật nước ngoài bằng tiếng nước ngoài. Ví dụng trong trường hợp này, ngôn ngữ sử dụng trong trọng tài có thể là tiếng Anh như vậy tất cả các đạo luật, án lệ, các bài viết nghiên cứu đều phải được dịch ra ngôn ngữ của các bên. Các chuyên gia pháp lý phải chứng minh nội dung pháp luật. Hơn nữa, thủ tục tố tụng rất tốn kém và nếu một bên không có khả năng tài chính thì ngay từ đầu đây đã là một rào cản. Thứ hai, quan trọng hơn, pháp luật áp dụng mà các bên lựa chọn được xây dựng để giải quyết các vụ việc trong nước, đều cơ bản được bắt nguồn từ thế kỷ 19 và không phù hợp để giải quyết các tranh chấp hợp đồng quốc tế. Đây là một tình trạng phổ biến đối với nhiều bộ luật mua bán hàng hóa của các quốc gia. Cuối cùng, rất khó có thể dự đoán kết quả giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật quốc gia áp dụng.

 

Một vấn đề khác là liệu các bên có thể lựa chọn áp dụng Công ước CISG hay không trong những trường hợp không thỏa mãn các điều kiện tiên quyết để áp dụng Công ước. Với tư cách là một quốc gia thành viên Công ước, đây là một vấn đề đáng quan tâm cho doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là đối với các loại hợp đồng hỗn hợp trong đó phần dịch vụ chiếm ưu thế - ví dụ các thỏa thuận cấp phép hay hợp đồng xây dựng, các loại hợp đồng “chìa khóa trao tay” và hợp đồng khung như hợp đồng phân phối. Chắc chắn Công ước CISG không loại trừ việc áp dụng đối với các loại hợp đồng trên. Tuy nhiên, ít nhất khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án cần phải dẫn chiếu đến quy định tư pháp quốc tế được áp dụng. Quy định này có thể cấm việc lựa chọn pháp luật áp dụng hoặc hay bắt buộc phải lựa chọn pháp luật một quốc gia nào đó. Vấn đề này đặc biệt quan trọng trong các hợp đồng với đối tác Brazil nếu tranh chấp giữa các bên sẽ do Tòa án Brazil xét xử. Nếu các bên muốn lựa chọn áp dụng Công ước CISG thì cần kết hợp điều khoản lựa chọn luật áp dụng với điều khoản trọng tài trong hợp đồng.

 

3.    Mua bán hàng hóa

 

Công ước CISG áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa. Từ quan điểm truyển thống, hàng hóa là những vật thể hữu hình, có thể dịch chuyển. Tuy nhiên, hiện nay, khái niệm này đã không còn phù hợp với thực tế. Sách vở, âm nhạc và các sản phẩm tương tự có thể được tải về từ mạng internet mà không cần phải thông qua các phương tiện hữu hình. Nhiều đồ dùng hàng ngày hiện nay như xe cộ, tủ lạnh, ti vi đều được điều khiển bởi phần mềm, chưa kể đến các máy móc hay dây chuyển sản xuất hiện đại. Do đó, điều quan trọng là khái niệm hàng hóa theo Công ước CISG cần phải là một khái niệm mở và linh động để điều chỉnh hết những sự phát triển về công nghệ này.

 

Điều này lại dẫn đến một đặc điểm nổi trội nữa của Công ước CISG đối với pháp luật quốc gia. Hợp đồng cho hàng hóa được sản xuất bởi công sức và vật liệu của bên cung cấp, theo Công ước CISG, là hợp đồng mua bán hàng hóa. Việc hàng hóa được sản xuất là hàng hóa chung hay loại hàng hóa cụ thể, sản xuất theo yêu cầu hay hàng hóa đó dự định sẽ được lắp đặt tại tòa nhà của bên mua không có ý nghĩa quyết định. Theo đó, các hợp đồng liên quan đến nhà máy xử lý nước thải, nhà máy năng lượng hoặc nhà máy sản sản xuất đạn dược đều thuộc sự điều chỉnh của Công ước CISG.

 

Đối với các hợp đồng hỗn hợp, trong đó chỉ một phần của hợp đồng liên quan đến việc giao hàng hóa và phần còn lại quy định các nghĩa vụ về dịch vụ như giám sát việc lắp đặt và đào tạo nhân sự cho bên mua, về mặt nguyên tắc, cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước. Đây cũng là một điểm tiến bộ của Công ước so với pháp luật của nhiều quốc gia.  Chỉ trong trường hợp phần liên quan đến nghĩa vụ dịch vụ chiếm phần lớn trong hợp đồng thì Công ước CISG mới không được áp dụng. Mặc dù việc xác định như thế nào là “phần lớn” các nghĩa vụ không phải là việc dễ dàng nhưng thực tiễn hoạt động pháp luật qua hàng thập kỷ cho thấy có thể phân biệt được giữa phần hàng hóa và dịch vụ trong hợp đồng.

 

4.    Công ước CISG trong trọng tài

 

Tranh chấp giải quyết bằng trọng tài thường được điều chỉnh bởi Công ước CISG. Theo đó, Công ước CISG sẽ được áp dụng khi các bên thỏa thuận rõ ràng về việc chọn Công ước để điều chỉnh tranh chấp hoặc thông qua việc chọn pháp luật của các quốc gia thành viên Công ước. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận rõ ràng về pháp luật áp dụng, hội đồng trọng tài thường được yêu cầu áp dụng pháp luật phù hợp nhất, theo đó Hội đồng trọng tài có thể áp dụng trực tiếp Công ước CISG hoặc thông qua pháp luật của quốc gia thành viên (chủ động và bị động). Những hạn chế mà Tòa án quốc gia gặp phải liên quan đến các nguyên tắc tư pháp quốc tế, về mặt nguyên tắc, không áp dụng cho trường hợp các cơ quan trọng tài. Do đó, hiện nay Công ước CISG là một lựa chọn tối ưu trong trọng tài quốc tế.

 

I.              Phạm vi điều chỉnh của Công ước

 

1.    Giao kết hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên

 

Theo quy định tại điều 4, Công ước CISG điều chỉnh “việc giao kết hợp đồng mua bán cũng nghư quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh từ hợp đồng đó”.

 

Việc giao kết hợp đồng chủ yếu liên quan đến cơ chế chào hàng - chấp nhận chào hàng dẫn đến việc ký kết hợp đồng. Công ước CISG không quy định rõ ràng về vấn đề điều khoản mẫu. Tuy nhiên, gần như các quan điểm thống nhất cho rằng nguyên tắc của Công ước CISG về giao kết hợp đồng cũng được áp dụng đối với vấn đề hợp nhất các điều khoản mẫu bao gồm cả vấn đề xung đột giữa các hợp đồng mẫu hiện đang được tranh luận tại nhiều quốc gia. Như vậy, nguyên tắc của Công ước CISG đủ linh động để giải quyết các vấn đề quốc tế.

 

Các nguyên tắc của Công ước CISG về giao kết hợp đồng không chỉ điều chỉnh việc ký kết hợp đồng mua bán như trên mà theo quan điểm phổ biến hiện nay trên thế giới, còn được áp dụng cả cho thỏa thuận trọng tài, đó là một phần của hợp đồng theo Công ước CISG, ít nhất là ở khía cạnh thỏa thuận trọng tài được hình thành thông qua sự thống nhất của các bên.

 

Điều 11 Công ước CISG đưa ra một nguyên tắc rất quan trọng – nguyên tắc tự do về hình thức. Theo đó, hợp đồng mua bán hàng hóa không bắt buộc phải được giao kết hoặc chứng minh bằng văn bản và có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả bằng nhân chứng. Điều khoản này rõ ràng loại trừ các nguyên tắc của pháp luật quốc gia vẫn tồn tại trong nhiều hệ thống theo đó đặt ra yêu cầu gián tiếp về mặt hình thức như hợp đồng vượt một mức giá trị nhất định sẽ không được chấp nhận là chứng cứ tại Tòa án trừ khi hợp đồng đó ở dạng văn bản (đạo luật về hành vi lừa đảo). Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng điều 11 Công ước CISG không thể thay thế những yêu cầu về hình thức đối với điều khoản trọng tài. Mặc dù rất nhiều, nếu không muốn nói là hầu hết, các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đều được giao kết dưới dạng văn bản, tuy nhiên nguyên tắc tự do hình thức vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng vì nó liên quan đến cả việc sửa đổi hợp đồng theo quy định tại điều 29.1 Công ước. Trên thực thế, các bên thường sửa đổi hợp đồng bằng lời nói.

 

Tuy nhiên, ban đầu nguyên tắc tự do hình thức của Công ước cũng gây nhiều tranh cãi. Các quốc gia thương mại lớn, đặc biệt là các các quốc gia Xô Viết cũ và Trung Quốc đòi hỏi phải có yêu cầu về văn bản. Giải pháp thỏa hiệp được đưa ra là áp dụng quyền bảo lưu, cho phép các quốc gia loại trừ quy định về tự do hình thức và áp dụng pháp luật quốc gia về hình thức hợp đồng. Có tất cả 8 quốc gia đã tuyên bố bảo lưu điều khoản này. Khác với các quốc gia mới gia nhập Công ước CISG gần đây, không may là Việt Nam lại lựa chọn sử dụng quyền bảo lưu trên. Tuy nhiên, yêu cầu về hình thức hợp đồng bằng văn bản có thể được giảm bớt theo hai cách: thứ nhất, bản thân Công ước CISG đưa ra định nghĩa như thế nào là “bằng văn bản”. Ngày nay, các hình thức trao đổi điện tử như email đã được xem là đáp ứng yêu cầu về hình thức bằng văn bản. Thứ hai, yêu cầu hình thức văn bản của một quốc gia bảo lưu chỉ được áp dụng nếu các nguyên tắc tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật của quốc gia bảo lưu đó. Theo đó, nếu Tòa án Việt Nam nhận định rằng trong hợp đồng giữa công ty Việt Nam và công ty Trung Quốc, luật tư pháp quốc tế quy định pháp luật Trung Quốc sẽ được áp dụng theo thứ tự bổ trợ thì nguyên tắc tự do về hình thức vẫn có hiệu lực cho dù Việt Nam đã tuyên bố bảo lưu.

 

Cần lưu ý thêm rằng Công ước CISG điều chỉnh vấn đề giải thích hợp đồng, tuyên bố và hành vi của các bên. Đây là một nguyên tắc quan trọng vì hệ thống thông luật và dân luật có cách tiếp cận rất khác nhau về vấn đề giải thích. Tại phần lớn các hệ thống dân luật, cơ sở của việc giải thích các tuyên bố và hành vi của các bên là cơ sở ý định chủ quan. Ngược lại, các hệ thống thông luật áp dụng cách hiểu mang tính chất khách quan về ý định của các bên khi các bên thể hiện những ý định này. Cũng như trong các lĩnh vực khác, Công ước mong muốn tạo ra sự cân bằng giữa hai cách cách tiếp cận khởi đầu khác nhau như trên. Mặc dù, Công ước có định hướng mạnh mẽ nghiêng về cách tiếp cận mang tính khách quan, theo quy định tại điều 8.3, Công ước yêu cầu xem xét tất cả các yếu tố liên quan trong vụ việc gồm có các hành vi của các bên trước và sau khi ký kết hợp đồng. Cách tiếp cận này rõ ràng loại trừ nguyên tắc không chấp nhận các bằng chứng trong giai đoạn đàm phán (parol evidence rule) cũng như quy tắc diễn giải theo nghĩa thông thường (plain meaning rule) trong thông luật.

 

2.    Các vấn đề không thuộc sự điều chỉnh của Công ước

 

Đáng tiếc là có nhiều vấn đề pháp luật hợp đồng chung không được Công ước CISG điều chỉnh. Quan trọng nhất là vấn đề hiệu lực của hợp đồng và của các điều khoản trong hợp đồng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước (Điều 4.a Công ước CISG). Những vấn đề không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như năng lực của thể nhân, của pháp nhân, cơ quan, lỗi, hành vi lừa đảo, cưỡng ép và các vấn đề tương tự; nổi bật nhất là vấn đề tính không hợp pháp và bất hợp lý. Chính vì vậy, hậu quả của lệnh cấm vận hoặc hạn chế mua bán một số loại hàng hóa nhất định như sản phẩm văn hóa phải được giải quyết theo pháp luật quốc gia áp dụng. Tương tự như vậy, giới hạn của điều khoản trách nhiệm hoặc mức tiền phạt – theo thuật ngữ pháp luật dân sự là “điều khoản phạt” – có hiệu lực hay không, về nguyên tắc, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước CISG.

 

Tuy nhiên, bản thân Công ước CISG quyết định phạm vi điều chỉnh và loại trừ phạm vi liên quan đến vấn đề hiệu lực tại điều 4.a và do đó vấn đề này sẽ do pháp luật quốc gia điều chỉnh.

 

Ví dụ, trụ cột của Công ước CISG là các quy định về tính phù hợp của hàng hóa và cơ chế xử lý trong trường hợp không tuân thủ quy định này. Nếu pháp luật quốc gia được áp dụng để điều chỉnh việc hủy bỏ hợp đồng do vi phạm liên quan đến tính phù hợp, sự thống nhất trong lĩnh vực pháp luật mua bán hàng hóa sẽ không còn. Chính vì vậy, Công ước CISG phải loại trừ trước những biện pháp xử lý trong pháp luật quốc gia có khả năng trùng lặp. Tương tự như vậy, Công ước hàm ý thừa nhận hiệu lực hợp đồng thậm chí cả trong trường hợp hàng hóa không hoặc không còn tồn tại tại thời điểm ký kết hợp đồng. Các giải pháp quy định trong pháp luật quốc gia dựa vào nguyên tắc pháp luật La Mã cổ hiện nay đã lỗi thời là impossibilium nulla obligatio est” (không ai phải có nghĩa vụ đối với những việc không thể xảy ra) theo đó đã bị loại bỏ.

                       

Điều 4.b loại trừ một khía cạnh quan trọng nữa không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước là các vấn đề liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu. Theo đó, theo quy định của Công ước CISG, bên bán có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua, tuy nhiên vấn đề là việc chuyển giao này diễn ra như thế nào hay nếu bên mua có thiện chí có được bảo vệ không khi nhận chuyển giao từ một bên không phải là chủ sở hữu, tất cả những vấn đề này được điều chỉnh bởi pháp luật về sở hữu của quốc gia. Tương tự, những hậu quả của việc bảo lưu quyền sở hữu phải được xác định theo pháp luật quốc gia.

 

3.    Giải thích và điều chỉnh các lỗ hổng pháp lý

 

Giống như các hợp đồng đơn lẻ phải được giải thích thì Công ước cũng như vậy. Khó có vấn đề nào thu hút sự tham gia của các học giả như vấn đề giải thích và điều chỉnh các lỗ hổng pháp lý. Nhiều cuốn sách về nội dung này đã được xuất bản, nhiều học thuyết mới đã được phát triển như học thuyết “global iuris consultorum” (pháp luật toàn cầu).

 

Điều khoản chính về giải thích và điều chỉnh các lỗ hổng pháp lý được quy định tại điều 7 Công ước CISG. Điều 7.1 nhằm đảm bảo sự giải thích thống nhất Công ước. Điều 7.2 đưa ra các giải pháp đối những vấn đề trống mà Công ước không quy định

 

Điều 7.1 Công ước CISG đưa ra 3 hướng dẫn cho việc giải thích gồm có việc cần xem xét đến tính chất quốc tế của Công ước, sự cần thiết phải thúc đẩy việc áp dụng Công ước một cách thống nhất và đảm bảo nguyên tắc thiện chí trong thương mại quốc tế.

 

Yếu tố đầu tiên cần xem xét là tính chất quốc tế của Công ước CISG, theo đó đảm bảo Công ước phải được giải thích một cách thống nhất. Mục tiêu rõ ràng của những người soạn thảo Công ước là xây dựng những khái niệm và thuật ngữ pháp lý không bị nhầm lẫn với các khái niệm và thuật ngữ trong pháp luật quốc gia. Theo đó, khái niệm hủy bỏ vì vi phạm hợp đồng có khả năng phân biệt không chỉ vì những điều kiện áp dụng cũng như hậu quả pháp lý kèm theo mà còn nhờ thuật ngữ sử dụng có tính phân biệt. Khi giải thích Công ước cần phải tránh các xu hướng hướng nội. Việc viện dẫn các giải pháp quy định trong pháp luật quốc gia và các án lệ liên quan để làm căn cứ giải quyết không được cho phép. Như vậy, trong mỗi vụ việc, ý nghĩa của Công ước CISG phải được giải thích một cách độc lập thậm chí trong trường hợp thuật ngữ của Công ước có thể giống hoặc tương tự với thuật ngữ sử dụng trong pháp luật quốc gia.

 

Điều 7.1 cũng nêu rõ yêu cầu cần thúc đẩy sự giải thích Công ước thống nhất. Nếu không có sự áp dụng và giải thích nhất quán thì mục tiêu đảm bảo sự thống nhất trong các lĩnh vực chính của pháp luật mua bán hàng hóa sẽ không thể thực hiện được.

 

Vấn đề quan trọng là làm thế nào chúng ta có thể đảm bảo được sự áp dụng và giải thích thống nhất Công ước CISG trên toàn thế giới, giữa các hệ thống dân luật và thông luật, giữa các quốc gia phát triển, đang phát triển và các quốc gia đang trong thời kỳ quá độ, vượt qua rào cản văn hóa và ngôn ngữ?

 

Không giống như Cộng đồng chung châu Âu hay Tổ chức hài hòa luật thương mại châu Phi (OHADA), Công ước CISG không có một Tòa án tối cao để đảm bảo sự giải thích thống nhất hay hài hòa hóa pháp luật. Đây có thể coi là một thiếu sót lớn của Công ước. Tuy nhiên, có nhiều cách thức khác để đảm bảo sự thống nhất trong việc áp dụng và giải thích Công ước.

 

Tôi xin phép chia sẻ một số biện pháp như sau. Thứ nhất, ngay từ năm 1988, UNCITRAL đã xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu CLOUT (án lệ về các văn kiện của UNCITRAL) nhằm thúc đẩy sự trao đổi và tham khảo những phán quyết liên quan đến các Công ước của UNCITRAL. Báo cáo viên tại các quốc gia thành viên thu thập tất cả các phán quyết liên quan đến Công ước CISG và chuyển về Ban thư ký Hội đồng tại Viên để công bố các phán quyết gốc và phần tóm tắt các phán quyết bằng 6 ngôn ngữ chính thức của Liên hợp quốc. Rất nhiều các cơ sở dữ liệu khác hiện có cũng làm cho việc tìm hiểu và nghiên cứu các phán quyết của Tòa án và cơ quan trọng tài thuận tiện hơn. Hiện nay, tổng cộng chúng ta có thể tiếp cận với hơn 3000 phán quyết của các Tòa án và cơ quan trọng tài hoàn toàn miễn phí trên mạng internet. Cuối cùng, Bản tóm lược án lệ của UNCITRAL về Công ước CISG – tái bản lần thứ 2 được xuất bản từ năm 2012 và công bố trên mạng internet đã tập hợp và giới thiệu những án lệ chọn lọc liên quan đến các điều khoản trong Công ước CISG. UNCITRAL là một cơ quan hành chính của Liên hiệp quốc, tuy nhiên, UNCITRAL không được đưa ra những bình luận phản biện đối với những thay đổi về pháp luật của các quốc gia thành viên, do vậy không thể đưa ra những hướng dẫn có giá trị đối với sự phát triển của Công ước CISG, đặc biệt là trong những trường hợp có sự giải thích chệch hướng tinh thần Công ước. Hội đồng tư vấn Công ước CISG được thành lập từ năm 2001, là một tổ chức tư nhân nên không chịu những sự ràng buộc nói trên. Hội đồng này đưa ra quan điểm về những vấn đề liên quan đến việc áp dụng và giải thích Công ước, nhận định của Hội đồng ngày càng được nhiều Tòa án, hội đồng trọng tài viện dẫn với vai trò là những hướng dẫn mang tính thuyết phục. Cuối cùng, sự thống nhất cũng được đảm bảo thông qua việc tham khảo những bài biết học thuật mang tính so sánh và quốc tế trong các bài bình luận, kỷ yếu hội nghị, vv…

 

Điều 7.1 Công ước CISG cũng quy định về việc đảm bảo nguyên tắc thiện chí trong thương mại quốc tế. Việc giới thiệu nguyên tắc thiện chí vào Công ước CISG đã gây ra nhiều tranh cãi tại Hội nghị Viên vì hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia công nhận quyên tắc này ở nhiều mức độ khác nhau. Trong khi các hệ thống thông luật ủng hộ mạnh mẽ nguyên tắc tính chắn chắn trong thương mại quốc tế thay vì nguyên tắc thiện chí thì các hệ thống dân luật có xu hướng dựa vào nguyên tắc thiện chí và thương mại công bằng.

 

Cho đến hiện nay, vấn đề liệu nguyên tắc thiện chí có thể được áp dụng trực tiếp đến mối quan hệ hợp đồng giữa các bên hay không vẫn là một vấn đề gây tranh cãi. Các Tòa án Đức đặc biệt thường căn cứ theo nguyên tắc thiện chí, ví dụ Tòa án có thể yêu cầu một bên khi đưa các điều khoản mẫu vào đàm phán thì phải cung cấp cho bên còn lại. Tuy nhiên, xem xét kỹ từ ngữ quy định tại điều 7.1 thì rõ ràng Công ước CISG không hướng đến mục tiêu này. Một ví dụ nữa là Các nguyên tắc UNIDROIT cũng đưa ra một điều khoản rõ ràng về nghĩa vụ của các bên phải hành động có thiện chí. Theo đó, phạm vi áp dụng của nguyên tắc thiện chí phải được giới hạn trong phạm vi giải thích Công ước và không được sử dụng nguyên tắc này với vai trò là một công cụ chung để giải quyết các vấn đề như tình trạng chung tại nhiều hệ thống dân luật.

 

Điều 7.1 quy định về định hướng giải thích Công ước còn điều 7.2 quy định về vấn đề điều chỉnh các kẽ hở pháp lý trong Công ước.

 

Mặc dù trên lý thuyết có thể dễ dàng phân biệt giữa giải thích và điều chỉnh lỗ hổng pháp lý nhưng trên thực tế ranh giới này nhiều khi cũng bị nhầm lẫn. Ví vụ, vấn đề trở ngại trong điều 79 của Công ước có bao gồm hoàn cảnh thay đổi cơ bản (hardship) hay không phụ thuộc vào việc giải thích; hay có thể được hiểu theo hướng Công ước CISG không quy định về vấn đề hoàn cảnh thay đổi cơ bản nên đây là một lỗ hổng hay không và cần phải được điều chỉnh theo nguyên tắc quy định tại điều 7.2 của Công ước.

 

Điều 7.2 quy định thủ tục gồm hai bước. Thứ nhất, cần xem xét vấn đề pháp lý đó có “liên quan đến đối tượng điều chỉnh của Công ước”. Những lỗ hổng này thường được gọi là “lỗ hổng bên trong” nếu liên quan đến đối tượng điều chỉnh của Công ước và ngược lại được gọi là “lỗ hổng bên ngoài” nếu không thuộc đối tượng điều chỉnh của Công ước. Theo điều 7.2, những lỗ hổng bên trong đầu tiên phải được giải quyết theo các nguyên tắc chung làm nền tảng của Công ước. Chỉ trong trường hợp không có các nguyên tắc chung đó thì giải quyết theo luật áp dụng được xác định dựa trên quy tắc xung đột pháp luật áp dụng.

 

Các lỗ hổng bên trong Công ước khi được chứng minh sẽ chủ yếu được điều chỉnh bằng các nguyên tắc chung làm nền tảng của Công ước. Danh sách các nguyên tắc chung ngày một nhiều hơn và cần lưu ý rằng việc giải quyết các lỗ hổng bên trong Công ước bằng các nguyên tắc chung thuận tiện hơn so với việc giải quyết các lỗ hổng bên ngoài, là những vấn đề không thuộc sự điều chỉnh của Công ước.

 

Các học giả và Tòa án từ các hệ thống dân luật đầu tiên sẽ căn cứ vào nguyên tắc thiện chí và trung thực và xem đây là nguyên tắc chung quan trọng nhất của Công ước CISG. Thực tế cho thấy cách tiếp cận này khó có thể đứng vững được và có thể ảnh hưởng đến việc áp dụng và giải thích Công ước một cách thống nhất cũng như tính có thể dự đoán của Công ước. Tuy nhiên, cũng có nhiều khái niệm giữ vai trò là các nguyên tắc chung nền tảng của Công ước – ít nhất là từ quan điểm của một luật sư dân luật – bắt nguồn từ nguyên tắc thiện chí. Ví dụ: quyền tự do của các bên, nguyên tắc không phủ nhận hành vi hoặc tuyên bố của mình, nguyên tắc cấm tự mâu thuẫn, nguyên tắc tự do về hình thức, bình đẳng giữa các bên,  nguyên tắc duy trì hiệu lực của hợp đồng, bồi thường toàn bộ, quyền từ chối thực hiện, nguyên tắc bù trừ và các vấn đề khác.

 

Trong trường hợp không có các nguyên tắc chung làm nền tảng Công ước, các lỗ hổng bên trong sẽ được giải quyết theo luật quốc gia được xác định dựa trên các quy tắc xung đột pháp luật tương ứng. Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật quốc gia trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải là lựa chọn được áp dụng cuối cùng. Với xu hướng ngày càng có nhiều nguyên tắc chung của Công ước CISG được xây dựng, trong một tương lai không xa chúng ta có thể hy vọng việc viện dẫn áp dụng pháp luật quốc gia sẽ không còn cần thiết.

 

4.    Cấu trúc cơ bản

 

Trước khi đưa ra kết luận, tôi sẽ trình bày một cách ngắn gọn một số đặc điểm của Công ước CISG đã tạo nên sự thành công của Công ước này trên toàn thế giới.

 

Trong rất nhiều lĩnh vực chính của pháp luật hợp đồng, Công ước CISG đã đạt được mục tiêu kết nối lại sự phân rẽ giữa hệ thống dân luật và thông tuật. Đây là một sự thỏa hiệp thành công – không gượng ép – giữa các cách tiếp cận khác nhau đối với những vấn đề pháp lý trong pháp luật mua bán hàng hóa. Hơn nữa, Công ước CISG cân bằng lợi ích của bên bán và bên mua theo một cách thức hiệu quả hơn bất kỳ hệ thống pháp luật quốc gia nào. Việc một số người cho rằng đây là công cụ quá thân thiện đối với người bán trong khi một số khác lại cho rằng quá thân thiện với người mua là một bằng chứng cho nhận định này. Cuối cùng, Công ước CISG có một cấu trúc đơn giản và dễ hiểu giúp tất cả mọi người đều dễ dàng tiếp cận. Thậm chí tại châu Phi, Công ước còn được sử dụng để đào tạo cho các doanh nghiệp về nội dung cơ bản của pháp luật hợp đồng.

 

Một ví dụ khác nữa là chế tài giải quyết. Tại phần lớn các hệ thống dân luật, chế tài là một trong những lĩnh vực pháp luật phức tạp nhất trong hệ thống pháp luật về nghĩa vụ vốn xuất phát từ ngồn gốc luật La Mã. Bộ ba nguyên tắc gồm có không thể thực hiện, thực hiện muộn và thực hiện thiếu sót cũng như những điểm khác nhau quan trọng nhưng khó nhận biết giữa những nguyên tắc này đã không còn phù hợp với những yêu cầu của thương mại quốc tế hiện nay. Công ước CISG lại đi theo cách tiếp cận trên cơ sở vi phạm hợp đồng kế thừa từ truyền thống thông luật, tuy nhiên, không giữ lại những đặc điểm phức tạp vẫn thường thấy tại các quốc gia này. Thay vào đó, Công ước xây dựng một hệ thống chế tài của riêng mình với những nguyên tắc rõ ràng và phù hợp với thương mại quốc tế. Điều khoản về nghĩa vụ của bên bán được tiếp nối bằng những chế tài bên mua có thể áp dụng trong trường hợp bên bán vi phạm hợp đồng. Tương tự, phần nghĩa vụ của bên mua được tiếp nối bằng những chế tài bên bán có thể áp dụng. Theo nguyên tắc chung, hủy hợp đồng chỉ áp dụng khi có sự vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Yêu cầu về lỗi không được áp dụng trong trường hợp một bên yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng cũng có khả năng được miễn trừ trách nhiệm nếu có trở ngại vượt quá phạm vi rủi ro mà bên vi phạm phải chịu.

Tin đã đăng