Trang chủ » Tin tức » Chuyên đề » Chi tiết

Thời gian đào tạo nghề luật sư tăng từ 6 tháng lên 12 tháng

Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2006, hiện nay, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung đang được lấy ý kiến nhân dân trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ để hoàn thiện dự thảo và trình Quốc hội. Theo đó, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung có những điểm mới đáng chú ý như sau:

Thứ nhất, về nguyên tắc hành nghề Luật sư: Dự thảo quy định 3 nguyên tắc hành nghề Luật sư (trước đây là 4 nguyên tắc) gồm (1) Tổ chức hành nghề luật sư thực hiện quản lý luật sư và hành nghề luật sư của tổ chức mình theo quy định của Luật này và Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư Việt Nam; (2) Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư thực hiện tự quản theo quy định của Luật này và Điều lệ của Liên đoàn luật sư Việt Nam; (3)Nhà nước thống nhất quản lý về luật sư và hành nghề luật sư.

Thứ hai, về đào tạo nghề luật sư: Thời gian đào tạo nghề luật sư tăng từ 6 tháng lên 12 tháng

Thứ ba, dự thảo bổ sung thêm quy định về người được miễn đào tạo nghề luật sư gồm: Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật; Đối với những người đã là thẩm phán, kiểm sát viên từ 5 năm trở lên; Đã là điều tra viên cao cấp, chấp hành viên cao cấp, thẩm tra viên cao cấp ngành Toà án, kiểm tra viên cao cấp ngành Kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật; Đã là điều tra viên, chấp hành viên, công chứng viên, thừa phát lại, thẩm tra viên chính ngành Toà án, kiểm tra viên chính ngành kiểm sát; chuyên viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật từ 5 năm trở lên thì chỉ được xem xét miễn đào tạo nghề luật sư trong thời hạn 2 năm, kể từ ngày thôi đảm nhiệm các chức danh đó.

Thứ tư, về thời gian tập sự hành nghề luật sư giảm từ 18 tháng xuống còn 12 tháng tính từ ngày đăng ký tập sự tại Đoàn luật sư. Luật sư hướng dẫn người tập sự hành nghề luật sư phải có ít nhất 3 năm kinh nghiệm và một luật sư không được hướng dẫn quá 03 người tập sự hành nghề luật sư tại cùng một thời điểm..

Sau khi kết thúc thời gian tập sư, người tập sự sẽ được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư (trừ những người đang là cán bộ, công chức, viên chức, trừ viên chức đang làm công tác giảng dạy pháp luật hoặc bị buộc thôi việc mà chưa hết thời hạn ba năm, kể từ ngày quyết định buộc thôi việc có hiệu lực; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; người không thường trú tại Việt Nam; người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xoá án tích về tội phạm do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, kể cả trường hợp đã được xóa án tích; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục hoặc quản chế hành chính; người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự).

Bên cạnh đó, dự thảo Luật cũng quy định chi tiết các trường hợp bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư; cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư; gia nhập Đoàn luật sư; về quyền, nghĩa vụ của luật sư; về hình thức hành nghề của luật sư; điều kiện hành nghề của luật sư nước ngoài.

Thứ năm, về hình thức hành nghề của luật sư, Dự thảo bổ sung thêm quy định đối với luật sư là viên chức chỉ được hành nghề dưới hình thức làm việc theo hợp đồng cho tổ chức hành nghề luật sư, không được thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư.

Thứ sáu, về hình thức tổ chức hành nghề luật sư, điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư: Dự thảo Luật vẫn giữ nguyên 2 hình thức tổ chức hành nghề luật sư là văn phòng luật sư và công ty luật.

Về điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư: Luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư phải có ít nhất 3 năm hành liên tục làm việc theo hợp đồng cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân, kể từ ngày gia nhập Đoàn luật sư;

Đối với các Đoàn luật sư có từ 500 luật sư trở lên thì có thể thành lập các Chi hội trực thuộc Đoàn luật sư theo quy định của Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam.

Tin đã đăng