Trang chủ » Tin tức » Chuyên đề » Chi tiết

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM HIỆU QUẢ

Ngày 17 tháng 06 năm 2010, Quốc hội đã thông qua Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả với 12 chươn, 48 điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2011.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM VÀ HIỆU QUẢ

1. Yêu cầu cấp bách về nhu cầu năng lượng và nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng toàn xã hội

Việt Nam là một nước được thiên nhiên ưu đãi, có đủ các nguồn tài nguyên năng lượng nhưng khả năng khai thác, chế biến và sử dụng còn nhiều hạn chế. Theo tính toán quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia, trong giai đoạn 2010-2020 đã có khả năng xuất hiện sự mất cân đối giữa khả năng cung cấp và nhu cầu sử dụng các nguồn năng lượng sơ cấp nội địa. Việt Nam chuyển thành nước nhập khẩu năng lượng và mức độ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu ngày một tăng. Tính đến năm 2020 nước ta sẽ tiếp tục phải nhập khẩu các sản phẩm dầu, trong khi giá dầu luôn dao động và gây áp lực rất lớn đến phát triển kinh tế-xã hội. Do những hạn chế về khả năng công nghệ, điều kiện kinh tế-xã hội của nước ta, việc phát triển các nguồn năng lượng thay thế cho các nguồn truyền thống đang gặp nhiều khó khăn, hạn chế khả năng đa dạng hóa các nguồn cung cấp năng lượng. Theo dự báo, với tốc độ gia tăng mức khai thác năng lượng như hiện nay, đến cuối thế kỷ này, các nguồn năng lượng của Việt Nam sẽ trở thành khan hiếm, các mỏ dầu và khí đốt sẽ dần cạn kiệt trong trong tưoơg lai gần.

Trong sản xuất công nghiệp, xây dựng dân dụng và giao thông vận tải của nước ta hiện nay, khả năng tiết giảm lãng phí năng lượng còn rất lớn. Hiệu suất sử dụng nguồn năng lượng trong các nhà máy điện đốt than, dầu của nước ta chỉ đạt được từ 28% đến 32%, thấp hơn so với các nước phát triển khoảng 10%; hiệu suất các lò hơi công nghiệp chỉ đạt khoảng 60%, thấp hơn mức trung bình của thế giới khoảng 20%. Năng lượng tiêu hao cho một đơn vị sản phẩm các ngành công nghiệp chính của nước ta cao hơn nhiều so với các nước  phát triển. Ví dụ để sản xuất 1 tấn thép từ nguyên liệu quặng, các nhà máy thép của nước ta cần 11,32 đến 13,02 triệu Kcal, trong khi mức tiên tiến của thế giới chỉ cần 4 triệu Kcal; luyện thép từ thép phế liệu nước ta cần 2,82 triệu Kcal, thế giới cần 2 triệu Kcal. Theo tính toán, cường độ năng lượng (mức tiêu hao năng lượng để sản xuất ra một đơn vị giá trị kinh tế – kgOE/đồng; kWh/đồng...) trong công nghiệp của Việt Nam cao hơn Thái Lan và Malaysia khoảng 1,5 - 1,7 lần, như vậy để làm ra cùng một giá trị sản phẩm như nhau, sản xuất công nghiệp của nước ta phải tiêu tốn năng lượng gấp 1,5 – 1,7 lần nhiều hơn các nước nói trên. Thiếu các biện pháp tiết kiệm năng lượng cộng với trình độ lạc hậu của công nghệ trong các doanh nghiệp làm cho việc sử dụng năng lượng rất kém hiệu quả.

Tỷ lệ so sánh giữa mức tăng trưởng nhu cầu năng lượng so với tăng trưởng GDP của nước ta đang ở mức xấp xỉ 1,7 lần; trong khi ở các nước phát triển tỷ lệ này là dưới 1. Các nghiên cứu, khảo sát trong một số xí nghiệp sản xuất xi măng, thép, sành sứ, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng ... cho thấy tiềm năng tiết kiệm năng lượng có thể đạt trên 20%. Trong lĩnh vực xây dựng và khai thác các công trình xây dựng dân dụng, lĩnh vực giao thông vận tải tiềm năng tiết kiệm năng lượng có thể tới 30-35%; khu vực sinh hoạt và hoạt động dịch vụ tiềm năng tiết kiệm cũng không nhỏ.

Việc gia tăng mức độ sử dụng năng lượng, luôn luôn kèm theo nguy cơ gây ô nhiễm môi trường tại khu vực hoạt động năng lượng và góp phần làm suy giảm chất lượng môi trường toàn cầu (ví dụ việc thải vào khí quyển khí CO2, SO2, NOx gây hiệu ứng nhà kính, phá hỏng tầng Ôzôn, làm biến đổi khí hậu). Hơn 80% nguồn năng lượng sử dụng của nước ta là nhiên liệu hoá thạch, nhiên liệu có nguồn gốc hữu cơ. Quá trình cháy nhiên liệu nói riêng và hoạt động năng nói chung là nhân tố quan trọng gây ô nhiễm môi trường. Theo nghị dịnh thư Kyoto sử dụng nhiên liệu hoá thạch là nguồn tạo ra trên 70% khí nhà kính.

 Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả đã được đa số các nước trên thế giới đánh giá là một trong những lựa chọn ưu tiên thực hiện chiến lược phát triển bền vững trong Thế kỷ 21. Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã được chứng minh là biện pháp có chi phí thấp hơn nhiều, chỉ bằng 30% so với mức chi phí đầu tư nguồn điện mới. Chương trình tiết kiệm điện ở Thái Lan  đã chứng minh, để “sản xuất” thêm 1 kWh điện do tiết kiệm babưng biện pháp nâng cao hiệu suất sử dụng phải đầu tư 2 cents USD, trong khi các nhà máy điện đốt than, dầu, khí để sản xuất ra 1 kWh điện phải tiêu tốn trung bình từ 4-6 cents.

Sử dụng năng lượng với hiệu suất cao là phần không thể tách rời của chiến lược hài hòa giữa phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường. Chương trình hành động Hợp tác năng lượng ASEAN được các Bộ trưởng năng lượng ASEAN thông qua, triển khai cho các giai đoạn 1999-2004, 2004-2009 đều xác định hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một trong 06 lĩnh vực được các nước ASEAN đồng thuận đưa vào chương trình hợp tác khu vực.

 Nghị quyết Trung ương số 18/NQ-TW ngày 25 tháng 10 năm 2007 của Bộ Chính trị về định hướng phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2050; Quyết định số 1855/QĐ-TTg ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn 2050 đã  khẳng định chính sách khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Ngày 03 tháng 9 năm 2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định 102/2003/NĐ-CP về Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Tuy nhiên kết quả đạt được còn rất hạn chế, theo đánh giá của các cơ quan quản lý, các chưyên gia trong và ngoài nước, Nghị định 102/2003/NĐ-CP chưa thực sự đi vào cuộc sống do các nguyên nhân chủ yếu sau:

- Chưa hình thành cơ quan quản lý Nhà nước để thống nhất điều phối  các hoạt động tiết kiệm năng lượng trên phạm vi toàn quốc.

- Thiếu đồng bộ và phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước tại Trung ương và địa phương để triển khai các chương trình, dự án tiết kiệm năng lượng.

- Thiếu các quy định, điều chỉnh bắt buộc các đối tượng sử dụng năng lượng trong thực thi kế hoạch và các biện pháp tiết kiệm năng lượng.

- Chưa có cơ chế, chính sách đồng bộ để hỗ trợ, khuyến khích, thúc đẩy các hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

- Nhận thức của cộng đồng còn hạn chế, các doanh nghiệp chưa tự giác thực hiện các giải pháp tiết kiệm năng lượng.

Việc xây dựng và ban hành Luật về Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả để điều chỉnh toàn bộ hành vi phía sử dụng năng lượng tại thời điểm trước năm 2010 là cần thiết, kịp thời và phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay. Với các định chế đồng bộ được quy định trong  Lụât sẽ khắc phục được các yếu kém trong lĩnh vực sử dụng năng lượng, đồng thời bảo đảm các cơ chế hoạt động của thị trường, tôn trọng quyền chủ động của các doanh nghiệp, của người sử dụng năng lượng, đẩy mạnh quá trình thể chế hoá, đáp ứng yêu cầu tiết kiệm năng lượng trong sản xuất, tiêu dùng; giảm mức đầu tư rất cao hiện nay cho sản xuất năng lượng, tác động đến phong cách sống của mỗi người dân, cụ thể mục tiêu tiết kiệm là quốc sách, tiết kiệm năng lượng đi cùng với phát triển năng lượng, phát triển kinh tế.

2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Nội dung quản lý nhà nước liên quan đến việc sản xuất và cung cấp năng lượng ở Việt Nam đã được đề cập tại một số văn bản pháp luật như Luật Điện lực, Luật Dầu khí, Luật Khoáng sản, Luật Năng lượng nguyên tử. Tuy nhiên, các nội dung về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả chỉ mới được quy định tại Nghị định số 102/2003/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và một số văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định. Sau sáu năm thi hành Nghị định, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã đạt được một số kết quả bước đầu, như hình thành phương thức quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, nâng cao được nhận thức của cộng đồng, hành vi tiết kiệm năng lượng đã được khuyến khích thực hiện trong một số hoạt động của đời sống xã hội ...

Tuy nhiên, quá trình thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cũng đã bộc lộ không ít bất cập, đó là hiệu lực pháp lý của văn bản chưa cao; các biện pháp đề ra chủ yếu mang tính khuyến khích, chưa có chế tài đủ mạnh; các thể chế tài chính chưa được hình thành để khuyến khích, thúc đẩy các hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước tại trung ương và địa phương còn bất hợp lý, thiếu đồng bộ. Như vậy, có thể nói, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tổng thể chưa đáp ứng được yêu cầu về quản lý và thúc đẩy hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của cộng đồng; chưa tạo đủ cơ sở pháp lý để thực hiện các định hướng chiến lược về phát triển và sử dụng năng lượng mà Đảng và Chính phủ đã đề ra.

Do đó, xây dựng và ban hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả nhằm điều chỉnh toàn bộ hành vi phía sử dụng năng lượng tại thời điểm hiện nay là cần thiết, kịp thời đáp ứng yêu cầu về quản lý và phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế. Luật cũng sẽ thúc đẩy tiết kiệm năng lượng trong sản xuất, tiêu dùng, giảm mức đầu tư rất cao hiện nay cho sản xuất năng lượng, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá, tác động đến phong cách sống của mỗi người dân. Luật sẽ là một trong những căn cứ để cụ thể hoá mục tiêu tiết kiệm là quốc sách, tiết kiệm năng lượng đi cùng với phát triển năng lượng, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, đặc biệt là sự dâng cao của nước biển.

 Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong đời sống sinh hoạt:

- Trong lĩnh vực sinh hoạt đời sống, Nghị định 102/2003/NĐ-CP khuyến khích các hộ gia đình sử dụng các trang thiết bị chiếu sáng, thông gió, điều hoà nhiệt độ, bơm nước và các thiết bị phục vụ sinh hoạt khác có chỉ tiêu tiêu hao năng lượng tiên tiến, thay thế cho các trang thiết bị có chỉ tiêu tiêu hao năng lượng lạc hậu, nhằm giảm chi phí năng lượng và góp phần thực hiện chính sách tiết kiệm năng lượng của nhà nước.  

-  Các hoạt động tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức cộng đồng về tiết kiệm năng lượng, đặc biệt là tiết kiệm điện đã triển khai theo các nội dung của Chương trình tiết kiệm điện giai đoạn 2006-2010 được ban hành theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 80/2006/QĐ-TTg đã được đánh giá kết quả ở trên.

-  Nhiều công trình hầm khí sinh học, dàn đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời đã được triển khai ở nhiều địa phương trong cả nước, có sự hợp tác tích cực của Hội Phụ nữ Việt Nam, Hội Phụ nữ các tỉnh, các Trung tâm Tiết kiệm năng lượng.

              Nhu cầu tiêu thụ năng lượng của nước ta ngày càng tăng cao trong  quá trình công nghiệp hoá. Trong khi đó, công nghệ của thiết bị sử dụng năng lượng có hiệu suất còn thấp, trình độ quản lý ở các cơ sở sử dụng năng lượng còn yếu, người dân còn sử dụng lãng phí nhiều năng lượng dẫn đến các chỉ số so sánh về tiêu thụ năng lượng của Việt Nam còn cao hơn nhiều so với trung bình của thế giới. Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã chứng minh được giá trị tích cực và ngày càng trở thành yêu cầu thiết thực đối với các cơ sở sản xuất, các cơ quan và ngoài xã hội.

-        Hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả ở nước ta đã có sự phát triển vượt bậc trong gần 1 thập kỷ qua. Bước đầu là các công trình nghiên cứu khoa học, các dự án thí điểm, tiến đến những hoạt động đa dạng, triển khai rộng khắp, có định hướng, do Chính phủ thống nhất quản lý.

-        Những chuyển biến tích cực về lượng và chất đó trong hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã được hỗ trợ có hiệu quả của khung pháp lý đang từng bước được hoàn thiện. Các văn bản quy phạm pháp luật đó bao gồm Luật Điện lực số 28/2004/QH11, Nghị định 102/2003/NĐ-CP, một số Thông tư hướng dẫn Nghị định của Bộ Công Thương, các Quy chuẩn và Tiêu chuẩn kỹ thuật, các Quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả , Chương trình tiết kiệm điện của Thủ tướng Chính phủ đã tạo thành khung văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (kể cả tiết kiệm điện) trong 5 năm trở lại đây. Các văn bản quy phạm pháp luật trên đã và đang có đóng góp rất tích cực vào hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả của nước ta. Thiếu các văn bản đó, hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã không thể liên kết lại thành một trào lưu với bước phát triển rất nhanh, trên diện rộng và có chiều sâu như trong mấy năm vừa qua.

-        Luật Điện lực là một luật chuyên ngành, được soạn thảo theo hướng luật hiện đại, với các quy định chi tiết, sẽ có giá trị lâu dài, tác động vào quá trình phát triển ngành điện. Tuy nhiên, là luật chuyên ngành, Luật Điện lực chưa thể quy định về hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả bao trùm đối với các dạng năng lượng khác. Vấn đề chủ yếu của Luật là sự phát triển của ngành điện, trong đó vấn đề tiết kiệm điện là một nội dung. Ngoài Nghị định 105/2005/NĐ-CP, Luật cũng còn cần được bổ sung các văn bản hướng dẫn dưới luật khác nữa để tạo thành bộ khung hoàn chỉnh điều chỉnh hoạt động tiết kiệm điện ở nước ta.

-        Nghị định 102/2003/NĐ-CP là văn bản pháp lý cao nhất cho đến thời điểm hiện nay, quy định cụ thể riêng đối với hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả . Nghị định, cùng với các Thông tư hướng dẫn và các Chương trình bổ trợ đã là chỗ dựa pháp lý để triển khai các hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả ở nước ta trong 5 năm gần đây, từ khi Nghị định được ban hành. Các hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã có bước phát triển vượt bậc so với thời kỳ chưa hình thành được khung pháp lý điều chỉnh hoạt động này.

-        Do hoàn cảnh thời gian ra đời, Nghị định 102/2003/NĐ-CP còn có những hạn chế không khắc phục được. Nghị định thiên về các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, vận động mà thiếu các chế tài bắt buộc thực hiện. Trong điều kiện hiện nay, khi nhận thức của cộng đồng đã được nâng cao, vì lợi ích của quốc gia, nhiều cơ chế trong hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cần phải buộc thực hiện. Nghị định 102/2003/NĐ-CP đã không đáp ứng được yêu cầu này tại thời điểm hiện nay. Với vị trí trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định cũng chưa đủ mạnh để có thể quy định được nhưng nội dung khác với các văn bản đã ban hành trước đó.

Từ các thực tế trên, việc xây dựng và ban hành một bộ Luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả  là rất cần thiết nhằm đây mạnh hơn nữa các hoạt động trong lĩnh vực này, tạo chuyển biến về chất sâu rộng hơn nữa để đạt được các mục tiêu tiết kiệm năng lượng của quốc gia cho các năm trong tương lai. Nội dung Luật về cơ bản có thể phát triển từ các nội dung chính của Nghị định 102/2003/NĐ-CP, song cần bao hàm các chế tài cụ thể hơn, các cơ chế, chính sách cần được giao cho Chính phủ phân công cơ quan thực hiện rõ ràng. Các quy định của Luật cần đảm bảo các cơ chế hoạt động thị trường (trong sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu thiết bị sử dụng năng lượng…), tạo điều kiện phát huy quyền chủ động của doanh nghiệp, quyền được cung cấp năng lượng của người dân mà vẫn đáp ứng yêu cầu tiết kiệm năng lượng trong sản xuất, sinh hoạt đời sống, thực hiện tiết kiệm năng lượng trong định hướng chiến lược Phát triển năng lượng - Đảm bảo an ninh năng lượng - Bảo vệ môi trường.

 

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT

Việc xây dựng dự án Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả quán triệt quan điểm chỉ đạo sau:

 1. Thể chế hoá đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển năng lượng quốc gia, đảm bảo an ninh năng lượng, khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng trong nước, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ môi trường và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

2. Điều chỉnh các hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của toàn xã hội; khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

3. Kế thừa và luật hoá các quy định hiện hành về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã phù hợp với thực tế; từng bước nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

4. Phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập; thông lệ quốc tế về quản lý hoạt động sử dụng năng lượng, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế.

III. QUÁ TRÌNH SOẠN THẢO LUẬT

Để triển khai xây dựng Luật, Bộ Công Thương đã thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và đã phối hợp với nhiều Bộ, ngành có liên quan như: Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và đại diện một số cơ quan có liên quan.

Trong quá trình soạn thảo Luật, Ban soạn thảo đã đánh giá thực trạng hoạt động sử dụng năng lượng tại Việt Nam; đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về quản lý việc sử dụng năng lượng của Việt Nam; tham khảo luật của một số nước (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Uzbeckistan, Ôxtrâylia…), các quy định quản lý tiết kiệm năng lượng của Cộng đồng Châu Âu, Hoa Kỳ, Canada và các tổ chức quốc tế có liên quan.

Ban soạn thảo đã tổ chức các hội nghị, hội thảo lấy ý kiến các Bộ, ngành, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, chuyên gia, nhà khoa học, một số Hội khoa học kỹ thuật có các hoạt động liên quan đến hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo quy định.

Dự thảo Luật đã được bổ sung, chỉnh lý dựa trên ý kiến tham gia của các Bộ, ngành, địa phương, hiệp hội, tổ chức, cá nhân có liên quan và ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp.

Dự thảo Luật đã được Chính phủ thống nhất thông qua tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7 năm 2009 để trình Quốc hội.

Dự thảo Luật là một trong 8 dự án luật đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XII, Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (SDNLTK-HQ) không chỉ cần thiết và phù hợp với hoàn cảnh đất nước ta hiện nay mà sẽ là vấn đề quan trọng trong tương lai.

IV. NỘI DUNG CỦA LUẬT

1. Định hướng cơ bản của Luật

Liên quan đến lĩnh vực năng lượng có thể phân định rõ hai nội dung cơ bản là sản xuất và sử dụng năng lượng. Các hoạt động sản xuất năng lượng đã được điều chỉnh bởi các luật như Luật Khoáng sản, Luật Điện lực, Luật Dầu khí và Luật Năng lượng nguyên tử, do đó Dự án Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả chỉ tập trung quy định về trách nhiệm sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm và hiệu quả của tổ chức, cá nhân sử dụng năng lượng.

 Luật quy định nguyên tắc để điều chỉnh các đối tượng sử dụng năng lượng, phối hợp đồng bộ giữa biện pháp tuyên truyền, khuyến khích và quản lý bắt buộc, đặc biệt đối với các đối tượng sử dụng nhiều năng lượng (trong  Luật quy định là các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm). Theo đó, các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm phải có trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện các biện pháp quản lý và công nghệ được quy định trong Luật, khuyến khích các đối tượng khác trong toàn xã hội thực hiện các biện pháp tiết kiệm năng lượng.

Xác định rõ trách nhiệm, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và năng lực thực thi pháp luật của các cơ quan Chính phủ, Ủy ban nhân dân Tỉnh, Thành phố.

Tăng cường vai trò và trách nhiệm của các cơ sở sử dụng năng lượng trong công tác phối hợp, báo cáo hiện trạng sử dụng năng lượng, lập và thực hiện kế hoạch sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tại đơn vị. Khuyến khích hình thành mạng lưới các tổ chức dịch vụ để  triển khai các chương trình, dự án tiết kiệm năng lượng tại các địa phương.

Các phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng sẽ được quản lý chặt chẽ để từng bước nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng thông qua hoạt động dán nhãn, tuân thủ mức hiệu suất năng lượng tối thiểu và minh bạch thông tin về hiệu suất năng lượng. Hoạt động phát triển tiêu chuẩn, mức hiệu suất năng lượng tối thiểu và dán nhãn năng lượng không chỉ hướng dẫn, định hướng người tiêu dùng sử dụng các phương tiện thiết bị hiệu suất cao, tiết kiệm năng lượng mà còn là cơ sở cho việc quản lý, từng bước loại bỏ dần các trang thiết bị, công nghệ tiêu tốn năng lượng ra khỏi đời sống cộng đồng.

Đẩy mạnh phát triển và sử dụng công nghệ đồng phát nhiệt và điện, các giải pháp công nghệ làm tăng hệ số sử dụng năng lượng nhiệt tổng hợp; phát triển và phổ biến công nghệ đốt than sạch, nâng cao hiệu suất sử dụng nhiên liệu than; chuyển giao công nghệ sử dụng nhiên liệu tái sinh, nhiên liệu sinh học trong hoạt động giao thông vận tải.

Các nghiên cứu ứng dụng về tiết kiệm năng lượng hiện nay thường có quy mô nhỏ, nội dung kỹ thuật đa dạng, giải pháp kỹ thuật áp dụng trong phạm vi hẹp, không hấp dẫn các nhà quản lý, các thể chế tài chính. Từ đó rất cần khuyến khích các đối tượng nghiên cứu bằng cách đảm bảo nguồn tài chính ổn định cho các dự án thông qua việc áp dụng chính sách ưu đãi, miễn, giảm thuế và tạo điều kiện để các đối tượng này nhận được hỗ trợ dưới hình thức vay vốn ưu đãi từ các Ngân hàng Phát triển, Quỹ hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ môi trường.

2. Kết cấu và nội dung cơ bản của Luật

Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả gồm 12 chương với 48 điều với những nội dung chính như sau:

a. Những quy định chung

Chương I quy định về những vấn đề chung gồm 8 điều, quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ; chính sách của Nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; nguyên tắc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, chiến lược, quy hoạch, chương trình sử dụng năng lượng; thống kê về sử dụng năng lượng và các hành vi bị nghiêm cấm.

Trong đó tại Điều 7 quy định về thống kê sử dụng năng lượng do Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với cơ quan nhà nước về thống kê trình Chính phủ ban hành các chỉ tiêu thống kê về sử dụng năng lượng trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và pháp luật về thống kê.

Tại Điều 8 quy định rõ các hành vi bị cấm bao gồm: Hủy hoại nguồn tài nguyên năng lượng quốc gia; Giả mạo, gian dối để được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước trong hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quản lý sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả vì mục đích vụ lợi; Cố ý cung cấp thông tin không trung thực về hiệu suất năng lượng của phương tiện, thiết bị trong hoạt động dán nhãn năng lượng, kiểm định, quảng cáo và các hoạt động khác gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; Sản xuất, nhập khẩu, lưu thông phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng thuộc Danh mục phương tiện, thiết bị phải loại bỏ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

b. Các biện pháp nhằm sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo lĩnh vực

-  Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất công nghiệp

Chương II này gồm 6 điều quy định rõ trách nhiệm sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả của cơ sở sản xuất công nghiệp, trách nhiệm sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và các biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong cơ sở sản xuất, chế biến, gia công sản phẩm hàng hoá; trong cơ sở chế tạo, sửa chữa phương tiện, thiết bị; trong cơ sở khai thác mỏ; trong cơ sở sản xuất, cung cấp năng lượng

Các biện pháp chung để sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả được yêu cầu đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp:

Xây dựng, thực hiện kế hoạch sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả hằng năm; lồng ghép chương trình quản lý năng lượng với các chương trình quản lý chất lượng, chương trình sản xuất sạch hơn, chương trình bảo vệ môi trường của cơ sở;

Áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức về sử dụng năng lượng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; lựa chọn áp dụng quy trình và mô hình quản lý sản xuất tiên tiến, biện pháp công nghệ phù hợp và thiết bị công nghệ có hiệu suất năng lượng cao; sử dụng các dạng năng lượng thay thế có hiệu quả cao hơn trong dây chuyền sản xuất;

Áp dụng biện pháp kỹ thuật, kiến trúc nhà xưởng nhằm sử dụng tối đa hiệu quả hệ thống chiếu sáng, thông gió, làm mát; sử dụng tối đa ánh sáng, thông gió tự nhiên;  

Thực hiện quy trình vận hành, chế độ duy tu, bảo dưỡng phương tiện, thiết bị trong dây chuyền sản xuất để chống tổn thất năng lượng;

Loại bỏ dần phương tiện, thiết bị có công nghệ lạc hậu, tiêu tốn nhiều năng lượng theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

Ngoài ra đối với các loại cơ sở sản xuất khác nhau như: Cơ sở sản xuất, chế biến, gia công, hàng hóa, cơ sở chế tạo sửa chữa thiết bị, cơ sở khai thác mỏ, cơ sở sản xuất, cung cấp năng lượng lại có những yêu cầu khác nhau đối với các biện pháp công nghệ và quản lý để sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

- Sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả trong xây dựng, chiếu sáng công cộng

Chương III gồm 4 điều quy định các biện pháp cụ thể và trách nhiệm của từng đối tượng trong việc sử dụng năng lượng, tiết kiệm đối với hoạt động xây dựng, chiếu sáng đô thị.

Trong đó các biện pháp cần áp dụng trong xây dựng bao gồm: Áp dụng các giải pháp quy hoạch và thiết kế kiến trúc phù hợp với điều kiện tự nhiên nhằm giảm tiêu thụ năng lượng sử dụng cho chiếu sáng, thông gió, làm mát, sưởi ấm. Sử dụng vật liệu cách nhiệt phù hợp tiêu chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn nước ngoài về mức hiệu suất năng lượng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố, thừa nhận áp dụng nhằm hạn chế truyền nhiệt qua tường, mái nhà, cửa ra vào và cửa sổ, sử dụng và lắp đặt các phương tiện, thiết bị có hiệu suất năng lượng cao được thiết kế, sản xuất phù hợp tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn nước ngoài về mức hiệu suất năng lượng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố, thừa nhận áp dụng, áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đối với công trình xây dựng…

Các biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong chiếu sáng công cộng bao gồm

Bảo đảm hệ thống chiếu sáng công cộng được thiết kế theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với từng công trình và khu vực chiếu sáng; ưu tiên sử dụng thiết bị chiếu sáng hiệu suất cao, thiết bị chiếu sáng sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, tận dụng nguồn chiếu sáng tự nhiên;

Khi sửa chữa, thay thế, lắp đặt mới thiết bị chiếu sáng công cộng phải sử dụng thiết bị chiếu sáng được xác định là sản phẩm tiết kiệm năng lượng;

Vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng phù hợp theo thời gian trong ngày, theo mùa, vùng, miền.

         - Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong giao thông vận tải

Trong chương IV có 04 điều, quy định về trách nhiệm và các biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động tư vấn, thiết kế, đầu tư phát triển giao thông vận tải công cộng; Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ vận tải; Chủ đầu tư, nhà thầu khi xây dựng, cải tạo công trình giao thông; tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu thiết bị, phương tiện vận tải…  Ngoài ra, chương này quy định rõ trách nhiệm của Bộ Giao thông vận tải, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện các biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong giao thông vận tại

-  Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp

Chương V gồm 04 điều, quy định về quy định các biện pháp cụ thể để sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp; trong thủy lợi;  cùng các biện pháp giảm tổn thất điện năng và sử dụng năng lượng tái tạo trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Ngoài ra tại chương này cũng quy định trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thông cùng Ủy ban nhân dân các cấp trong việc hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện các biện pháp nói trên.

-  Sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả trong hoạt động dịch vụ và gia đình

Chủ khách sạn, siêu thị, nhà hàng, cửa hàng, cơ sở vui chơi giải trí, thể dục, thể thao và các cơ sở hoạt động dịch vụ cho đến từng  hộ gia đình đều cần quán triệt sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Các biện pháp được yêu cầu đối với chủ khách sạn, siêu thị, nhà hàng, cửa hàng, cơ sở vui chơi giải trí, thể dục, thể thao và các cơ sở hoạt động dịch vụ bao gồm: Thực hiện sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong hoạt động xây dựng, chiếu sáng, quản lý phương tiện, thiết bị;  Hạn chế sử dụng thiết bị công suất lớn, tiêu thụ nhiều điện năng vào giờ cao điểm trong chiếu sáng, trang trí, quảng cáo; Kiểm soát, duy tu, bảo dưỡng phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng để giảm tổn thất năng lượng trong hoạt động dịch vụ.

Khuyến khích các hộ gia đình sử dụng các biện pháp sử dụng tiết kiệm năng lượng trong nếp sống như sau : Thiết kế, xây dựng nhà ở có khả năng tận dụng ánh sáng và thông gió tự nhiên; Sử dụng vật liệu cách nhiệt, thiết bị gia dụng là sản phẩm tiết kiệm năng lượng; tăng cường sử dụng phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng tái tạo;Hạn chế sử dụng thiết bị điện công suất lớn, tiêu thụ nhiều điện năng vào giờ cao điểm;Xây dựng nếp sống, thói quen tiết kiệm năng lượng trong sử dụng thiết bị chiếu sáng và gia dụng.


- Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong dự án đầu tư, cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước

Tại Chương này, luật nêu rõ, cơ quan, đơn vị có cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm phải thực hiện kiểm toán năng lượng; xây dựng kế hoạch, biện pháp thực hiện tiết kiệm năng lượng; ban hành quy chế sử dụng năng lượng của cơ quan, đơn vị, đăng ký kế hoạch sử dụng năng lượng với cơ quan quản lý nhà nước về năng lượng tại địa phương; phổ biến kế hoạch, biện pháp và quy chế thực hiện kế hoạch sử dụng năng lượng đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, tổ chức kiểm tra, đánh giá và áp dụng hình thức khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức trực thuộc cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện kế hoạch sử dụng năng lượng.

Hàng năm, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước trực thuộc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bao gồm mục tiêu, biện pháp, định mức về sử dụng năng lượng đối với trụ sở làm việc, công trình xây dựng trực thuộc và báo cáo tình hình tiêu thụ năng lượng; xây dựng và thực hiện Quy chế tiết kiệm năng lượng nội bộ, bảo đảm vận hành phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.

- Quản lý năng lượng của các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm

Cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm là cơ sở sử dụng năng lượng hằng năm với khối lượng lớn theo quy định của Chính phủ.

 Chương này quy định về Kiểm toán năng lượng đối với cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm; điều kiện, nhiệm vụ của người quản lý năng lượng tại cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm; trách nhiệm quản lý nhà nước đối với cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm

c. Quản lý phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng

Điểm mới của Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là các quy định về dán nhãn năng lượng được xem như một biện pháp quản lý phương tiện thiết bị sử dụng năng lượng theo đó

 Phương tiện, thiết bị thuộc Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng phải được dán nhãn trước khi đưa ra thị trường.

Cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu phương tiện, thiết bị thực hiện việc dán nhãn năng lượng đối với phương tiện, thiết bị sau khi được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng.

Giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng được cấp sau khi phương tiện, thiết bị đã được thử nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng tại phòng thử nghiệm.

 

d.  Biện pháp thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả:

Chương này nêu rõ ba biện pháp chính nhằm thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả bao gồm:

- Ưu đãi đối với hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả: Các ưu đãi chính bao gồm hỗ trợ kinh phí từ chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, ngoài ra là các ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế

- Phát triển khoa học và công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả: Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân nghiên cứu khoa học, ứng dụng và phát triển công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

- Tuyên truyền, giáo dục, phát triển dịch vụ tư vấn sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

e. Trách nhiệm quản lý nhà nước và thi hành

Luật nêu rõ chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong phạm vi cả nước. Trong đó nhấn mạnh vai trò của Bộ Công thương trong việc chịu tránh nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Và trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo phân cấp của Chính phủ.

Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2011./.

 

 

Tin đã đăng